chương 1, trình bày sơ lược nội dung chính của 5 chương trong bài nghiên cứu. Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày kỹ lưỡng hơn về cơ sở lý thuyết. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2.
Nhà đầu tư cá nhân Trong nghiên cứu về thị trường chứng khoán, người ta thường phân loại nhà đầu tư thành hai nhóm chính: nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư. Việc phân loại này giúp hiểu rõ hơn về nguồn gốc và mục đích của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, từ đó có thể áp dụng các chiến lược và phương pháp phù hợp để đáp ứng nhu cầu đầu tư của họ. Theo Từ điển Farlex Financial Dictionary, tổ chức đầu tư là một tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp có nhiệm vụ nắm giữ và quản lý tài sản, không chỉ cho bản thân mình mà còn cho khách hàng của họ. Theo định nghĩa từ điển thuật ngữ tài chính, tổ chức đầu tư được mô tả là một tổ chức mua hoặc bán chứng khoán với quy mô lớn, sử dụng cả tài sản của họ và tài sản của khách hàng mà họ quản lý.
Các tổ chức đầu tư có thể là các công ty đầu tư, quỹ đầu tư, các ngân hàng thương mại, hoặc các công ty tài chính khác. Nhà đầu tư cá nhân được định nghĩa là những người không thuộc trong bất kỳ tổ chức đầu tư chuyên nghiệp nào. Họ sử dụng vốn nhàn rỗi tạm thời để tiến hành các giao dịch đầu tư trên tài khoản của riêng họ, nhằm đạt được các mục tiêu tài chính của mình (Nguyễn Đức Hiển, 2012). Quyết định đầu tư Dựa trên Deviyanti và cộng sự (2017) đầu tư được định nghĩa là một quá trình khai thác các nguồn lực hiện có để theo đuổi mục tiêu trong tương lai.
Ra quyết định là hành động lựa chọn một phương án từ một tập hợp các lựa chọn thay thế, sau khi xem xét tất cả các tùy chọn có sẵn. Nhà đầu tư phải cân nhắc đến các điều kiện thị trường, rủi ro và lợi nhuận khi đưa ra quyết định đầu tư (Kenghatharan & Kengatharan, 2014). Vì vậy, dựa trên mức độ chấp nhận rủi ro và mục tiêu để đạt 8 được lợi nhuận dự kiến, việc đầu tư trên thị trường chứng khoán là phân bổ tài chính nguồn lực để mua và bán chứng khoán. Trong nghiên cứu này, quyết định đầu tư đề cập đến NĐT hài lòng với quyết định mua, bán, nắm giữ chứng khoán của riêng mình.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân có thể được nghiên cứu dựa trên lý thuyết tài chính truyền thống hoặc lý thuyết tài chính hành vi. Lý thuyết tài chính truyền thống giả định các NĐT có lý trí và đưa ra quyết định dựa trên việc tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy các NĐT trên thị trường không phải lúc nào cũng đưa ra các quyết định đầu tư lý trí (Thaler, 2005; Bakar & Yi, 2016). Các khía cạnh khác, chẳng hạn như hành vi của nhà đầu tư, đã được nghiên cứu dưới tên “tài chính hành vi” trong vài thập kỷ qua.
Chứng khoán và thị trường chứng khoán Giới thiệu khái niệm Chứng khoán: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 định nghĩa: Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; Chứng khoán phái sinh; Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định. Như vậy, xét tổng quát, ta có thể hiểu Chứng khoán là một bằng chứng xác nhận dành cho người sở hữu chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản hoặc phần vốn của công ty hay tổ chức đã phát hành. Đây được coi là một tài sản tài chính có thể giao dịch mua bán và nắm giữ. Chứng khoán tồn tại dưới nhiều hình thức như chứng chỉ, bút toán ghi sổ hay dữ liệu điện tử.
Thị trường chứng khoán là một phần quan trọng của hệ thống tài chính của một quốc gia, nơi mà các công ty và nhà đầu tư gặp gỡ để mua bán cổ phiếu và các tài sản tài chính khác (Zuravicky, 2005). Trong thị trường này, giá trị của các công ty được giao dịch công khai thông qua việc mua và bán cổ phiếu trên các sàn giao dịch. Thị trường chứng khoán không chỉ là nơi cung cấp vốn cho các doanh nghiệp để phát triển mà còn là nơi mà các nhà đầu tư có thể tìm kiếm cơ hội đầu tư và tạo ra thu nhập. Thị trường chứng khoán cũng thường được xem là chỉ báo quan trọng về sức 9 khỏe của nền kinh tế, vì nó phản ánh tình hình tài chính và triển vọng tương lai của các công ty.
Các lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết tài chính hành vi Mặc dù lĩnh vực tài chính đã được nghiên cứu hàng nghìn năm nhưng tài chính hành vi nghiên cứu hành vi của con người trong thế giới tài chính là một lĩnh vực khá mới. Lý thuyết tài chính hành vi do hai nhà tâm lý học người Mỹ là Daniel Kahneman và Amos Tversky phát triển, đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiểu biết về hành vi con người. Năm 2002, Daniel Kahneman đã được trao giải Nobel Kinh tế nhờ vào những đóng góp xuất sắc của ông trong việc nghiên cứu và mở rộng lý thuyết này.
Lý thuyết tài chính hành vi dựa trên tâm lý học nhằm tìm hiểu cảm xúc và các lỗi nhận thức ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của các nhà đầu tư cá nhân (Kengatharan 2014). Trong bối cảnh hiện nay, tài chính hành vi đang trở thành một yếu tố không thể thiếu trong quá trình đưa ra quyết định, vì nó có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của các NĐT. Phần lớn các nghiên cứu được thực hiện đối với hành vi tài chính bắt nguồn từ công việc trong lĩnh vực tâm lý học nhận thức, lĩnh vực nghiên cứu cách mọi người kể cả các nhà đầu tư, suy nghĩ, lý luận và đưa ra quyết định. Theo Gitman và Joehnk (2008), các nhà nghiên cứu tài chính hành vi tin rằng quyết định của NĐT bị ảnh hưởng bởi một số niềm tin và sở thích.
Những niềm tin và thành kiến dẫn đến sẽ khiến các nhà đầu tư phản ứng thái quá với một số loại thông tin tài chính nhất định và phản ứng kém với những loại thông tin khác, khiến họ đưa ra quyết định không hợp lý và ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận rủi ro của họ. Chúng có thể được cải thiện bằng cách nhận ra những thành kiến và sai sót trong phán đoán mà tất cả trong số thiên kiến đó rất nhạy cảm với quyết định cũng như hiệu quả đầu tư. Theo Ritter (2003), tài chính hành vi dựa trên tâm lý học cho thấy rằng con người khi đưa ra quyết định phải chịu một số ảo tưởng về nhận thức. Những ảo tưởng này được phân thành hai nhóm: ảo tưởng gây ra bởi quá trình quyết định theo kinh nghiệm và ảo tưởng bắt nguồn từ từ việc áp dụng các khung tư duy được 10 nhóm lại trong lý thuyết triển vọng (Waweru và cộng sự, 2008).
Lý thuyết tài chính hành vi còn bao gồm yếu tố bầy đàn được ghi nhận bởi Kengatharan (2014) và Wamae (2013) tương ứng. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã được thực hiện trước đây để tìm ra tác động và mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và việc ra quyết định của nhà đầu tư. Hai phạm trù này cũng như các yếu tố bầy đàn sẽ trình bày ở phần tiếp theo. Lý thuyết triển vọng (The prospect theory) Lý thuyết này được biết đến như một trong những lý thuyết tốt nhất trong tâm lý kinh tế và theo đó về mặt lý thuyết, các cá nhân có xu hướng đánh bạc để kiếm lợi nhuận cao nhưng họ ít sẵn lòng hơn khi thua lỗ.
Vì vậy, lý thuyết này giải thích hành vi của các cá nhân trong những tình huống khác nhau và sự không chắc chắn trong những tình huống đó. Theo (Filbeck và cộng sự, 2005), lý thuyết triển vọng là một phần chủ quan của việc ra quyết định nhưng lý thuyết hữu dụng kỳ vọng là quan điểm phi lý của việc ra quyết định của con người, đặc biệt là các nhà đầu tư. (Barberis, Nicholas, 2001) nhận thấy sự mất mát đó ác cảm là sự thay thế mất mát bằng lợi ích tương đương và (Barberis & Thaler, 2002) giải thích rằng khi mọi người chịu lỗ trong khoản đầu tư của mình, họ trông chán nản hơn mức độ hạnh phúc khi họ nhận được lợi ích tương đương. (Barberis, Nicholas, 2001) nhận thấy rằng khi người ta sẽ thua lỗ sau nhiều thành công, nếu không thì sẽ cảm thấy bớt đau đớn hơn nếu người ta thua lỗ sau hậu quả, họ cảm thấy đau đớn hơn bình thường và hơn nữa, (Carter & Kryczkowski, 2005) giải thích ác cảm mất mát, ác cảm hối tiếc và tính toán cảm tính ảnh hưởng đến việc ra quyết định của NĐT và xác định rằng hối tiếc là điều kiện mà các NĐT cảm thấy khi họ có những sai lầm trong quyết định của mình.
Kahneman, 1977; Ritter, 2003) giải thích rằng phương pháp phỏng đoán rất quan trọng khi NĐT có ít thời gian quyết định nhưng do sự thiên vị đó cũng đã xảy ra và nó cũng giải thích sự tự tin thái quá và sai lầm của người cờ bạc trong lý thuyết tự nghiệm. Theo (Ritter, 2003), các nhà đầu tư tin vào những trải nghiệm mới nhất và không tập trung vào lịch sử. (De Bondt & Thaler, 1995) nhận thấy rằng khi các NĐT mua 11 những cổ phiếu không sở hữu giá trị lợi nhuận dài hạn tốt trong quá khứ mang tính đại diện và được xây dựng dưới dạng phản ứng quá mức của NĐT. (Evans, 2006) giải thích rằng các NĐT trông tự tin thái quá khi họ nắm giữ đủ kiến thức về lĩnh vực đó.
(Oberlechner & Osler, 2011) nhận thấy rằng các NĐT tăng nhận thức của họ trong tâm trí công chúng với sự giúp đỡ của sự tự tin thái quá và chính lý do đằng sau điều này là kiến thức cũng như kinh nghiệm mà họ có được trong phạm vi mà họ đang nghiên cứu. Vì vậy, điều kiện này cũng được sử dụng cho các chương trình khuyến mãi. Hơn nữa, họ giải thích rằng nếu các NĐT biết việc thực hiện thông tin của họ hình thức nơi họ thu thập chúng sau đó họ có thể ước tính và hạn chế các lỗi lầm gây ra trong quá trình ra quyết định.