phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài được chia thành 3 chương Chƣơng 1: Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam và báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Chƣơng 2: Thực trạng thông tin tài chính và công bố thông tin tài chính của các công ty niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) TP.HCM Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường tính hữu dụng của thông tin tài chính và công bố thông tin tài chính trong mối liên hệ với các quyết định đầu tư chứng khoán 8 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ tắt Tiếng việt Tiếng Anh (nếu có) Automated System for Stock ASSET động Exchange of Thailan BCTC Báo cáo tài chính BTC Bộ tài chính CBTT Công bố thông tin CĐKT CK Chứng khoán CTCK Công ty chứng khoán CTCP n CTNY Công ty niêm yết ĐTNN Đầu tư nước ngoài Electronic Listed Company ELCID Hệ thống CBTT về tổ chức niêm yết Information Disclosure) KQKD QĐ PRS Hệ thống báo giá Securities & Exchange SET Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan Thailand SETINF Hệ thống dịch vụ thông tin SET Information Services O SIMS Hệ thống quản lý thông tin SGDCK Sở giao dịch chứng khoán TTCK Thị trường chứng khoán TT Thông tư TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước VAS Viet Nam Accounting System VN_Inde Chỉ số giá toàn thị trường Việt Nam_Index x 9 Tên gọi Bảng 1.1 Quy mô giao dịch trung bình của các cổ phiếu của các Bảng 1.2 công ty thuộc 2 nhóm nghiên cứu qua 6 năm 1.4 10 CHÖÔNG I: TÌNH HÌNH THÒ TRÖÔØNG CHÖÙNG KHOAÙN VIEÄT NAM VAØ BAÙO CAÙO TAØI CHÍNH CUÛA CAÙC COÂNG TY CUÛA CAÙC COÂNG TY NIEÂM YEÁT 1. Toång quan veà thò tröôøng chöùng khoaùn Vieät Nam Với ý tưởng hình thành thị trường chứng khoán để thực hiện các mục tiêu cơ bản là thúc đẩy quá trình cổ phần hóa và tạo thêm một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế. Ngày 28/11/1996, Chính phủ ban hành Nghị định 75/CP về việc thành lập ủy ban chứng khoán. Ngày 14/07/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Sau gần 5 năm triển khai với nhiều lần trì hoãn, ngày 20/07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời với trung tâm giao dịch chứng khoán đặt tại TP.Hồ Chí Minh. Giới thiệu tình hình hoạt động và tổ chức thị trƣờng chứng khoán VN Trong phạm vi của luận văn, để thuận lợi cho quá trình phân tích và so sánh, luận văn lấy mốc thời gian là ngày giao dịch đầu tiên là 28/07/2000, đến năm thứ 6 được tính đến ngày 28/7/2006. Quy mô niêm yết qua các năm1: Quy mô giá trị niêm yết 35.832 Giá trị niêm yết 25.248 - 2005 2004 2003 2002 2001 2000 Quy mô giá trị niêm yết Năm Hình 1.1 – Quy mô giá trị niêm yết qua các năm 1 Xem thêm phụ lục 1.1 11 1 Quy mô giao dịch trên thị trường (khớp lệnh + thỏa thuận): Hình 1.2 – Quy mô giá trị giao dịch (khớp lệnh & thỏa thuận) qua các năm 2: a) Kết quả đạt đƣợc mẻ nhưng cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều công chúng. Từ khi đi vào hoạt động, TTCK VN đã đạt được một số thành tựu như: 12 Qua 6 năm hoạt động (tính đến thời điểm 28/07/06), Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM đã tổ chức thực hiện được 1.343 phiên giao dịch với giá trị bình quân của toàn thị trường liên tục tăng từ 1,4 tỷ đồng trong năm 2000 lên 81 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2005.
TTCK cũng đã từng bước thể hiện rõ vai trò là một kênh huy động vốn với tổng giá trị niêm yết trên 31.000 tỷ đồng, trong đó có 264 trái phiếu chiếm 29.021 tỷ đồng, 30 cổ phiếu chiếm 1.541 tỷ đồng và 1 chứng chỉ quỹ đầu tư đạt 300 tỷ đồng. Ngoài ra, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng đã chính thức ra mắt và đi vào hoạt động từ ngày 8. Như vậy, với việc vận hành song song hai TTGDCK tại 2 trung tâm kinh tế lớn của cả nước, TTCK VN được kỳ vọng sẽ trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng, và hơn thế nữa, tiến đến trở thành kênh dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế quốc dân. Hoạt động giao dịch tại thị trường cũng từng bước có những khởi sắc nhất định.
Số lượng các nhà đầu tư tham gia vào thị trường liên tục tăng qua các năm, nếu như vào cuối năm 2000 mới chỉ có hơn 2.500 tài khoản giao dịch thì thang 4/05 đã có hơn 21.1 - SỐ LƢỢNG TÀI KHOẢN NHÀ ĐẦU TƢ QUA CÁC NĂM Số lƣợng Trong nƣớc Nƣớc ngoài NĂM nhà đầu Tổ Cá Tổ tƣ chức nhân chức Cá nhân 2000 2.047 31 278 (* )Số liệu năm 2005: tính đến hết ngày 30/04/2005 Nguồn: P.Tuyên truyền thông tin - TTGCCK TP.HCM Cũng tính từ năm 2000, toàn thị trường có 4 công ty chứng khoán thành viên, 1 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài, thì đến nay thị trường đã có một hệ thống lưu ký chứng khoán hoạt động ổn định với 13 công ty chứng khoán thành viên, 2 tổ chức lưu ký trong nước và 3 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài. 13 Hàng hoá được giao dịch trên thị trường ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Một số giải pháp kỹ thuật mới cũng đã được đưa vào áp dụng như điều chỉnh biên độ, chia nhỏ lô giao dịch,… cho phép đa dạng hóa loại hình và phương thức giao dịch, đồng thời đã tạo được những tiền đề hết sức cơ bản trong việc chuẩn hóa các loại hình nghiệp vụ kỹ thuật của thị trường. Hệ thống văn bản pháp luật điều tiết hoạt động của thị trường cũng được quan tâm.
Chính phủ và các bộ ngành liên quan đã từng bước xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và các chính sách khuyến khích thị trường tương đối đầy đủ để điều chỉnh các hoạt động trên TTCK trong thời gian đầu. Trong kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khoá XI, Luật chứng khoán 70/2006/QH 11 đã ra đời đánh dấu một bước phát triển cho hoạt động của TTCK Việt Nam. Vai trò của công tác tuyên truyền và phổ cập kiến thức về TTCK cũng có những bước tiến đáng kể. Trong 5 năm qua, Việt Nam đã tranh thủ được sự trợ giúp song phương và đa phương từ hơn 20 quốc gia, các Uỷ ban chứng khoán, các Sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức tài chính quốc tế khác như Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Công ty tài chính quốc tế (IFC) trong xây dựng khuôn khổ pháp lý, thực hiện thông lệ quốc tế về quản trị công ty, xây dựng lộ trình phát triển thị trường vốn cũng như đào tạo nguồn nhân lực cho TTCK VN.
b) Một số mặt hạn chế Tuy nhiên, so sánh với tiềm năng phát triển và nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế cũng như kinh nghiệm phát triển TTCK ở các nước trong khu vực, TTCK VN vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, có thể kể ra một số hạn chế chủ yếu : 0,66% GDP năm 2004; tính cả giá trị thị trường của trái phiếu và chứng chỉ quỹ thì tổng giá trị thị trường mới đạt 32.507 tỷ đồng, bằng 4,87% GDP. Nếu so sánh với mục tiêu phát triển TTCK đến năm 2010 chiếm 10-15% GDP như Chính phủ đề ra thì con số này là quá nhỏ bé. 14 Số lượng và chất lượng hàng hóa trên TTCK chưa cao nên kém hấp dẫn nhà đầu tư. Số lượng người đầu tư chứng khoán cũng còn hạn chế.
Hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến thị trường có tính pháp lý chưa cao, thiếu đồng bộ và vẫn còn nhiều bất cập như chính sách ưu đãi về thuế cho công ty niêm yết,… Chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ trên TTCK cũng chưa cao, tính minh bạch và hiệu quả còn hạn chế, thể hiện ở chất lượng công tác công bố thông tin, chất lượng hoạt động của TTGDCK cũng như các thành viên thị trường. Các biểu hiện vi phạm trên thị trường ở một số CTCK cũng như công ty niêm yết đã ảnh hưởng đến lòng tin của công chúng đầu tư. Nhìn chung, khối lượng giao dịch khớp lệnh cổ phiếu trên thị trường có sự gia tăng qua các năm, ngoại trừ năm 2003 quy mô giao dịch thu hẹp đáng kể so với năm trước (giảm 25% khối lượng giao dịch). Tuy nhiên, nếu tính đến yếu tố số phiên giao dịch tăng 3 lên 5 phiên/tuần kể từ 1/3/2005 thì trên thực tế, quy mô giao dịch chỉ tăng rõ rệt trong hai năm 2001 và 2004 (tăng lần lượt là 113% và 165% so với năm trước); năm 2002 tăng 7% so với năm 2001.
Tính chung cho cả giai đoạn 2004 – 2005, tốc độ tăng khối lượng giao dịch bình quân mỗi năm khoảng > 200%. Sơ lƣợc về tình hình hoạt động của các công ty niêm yết Thị trường chứng khoán ra đời ngày 20/7/2000, phiên giao dịch đầu tiên bắt đầu từ ngày 28/7/2000 với sự có mặt của 2 công ty niêm yết đầu tiên là Ree (Công ty cổ phần cơ điện lạnh) và Sam (Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông), rồi hàng loạt các công ty xuất hiện. Tính đến thời điểm ngày 28/7/2006, TTGDCK TP.HCM có 44 cổ phiếu của 44 công ty đã niêm yết và 1 chứng chỉ Quỹ, với tổng số vốn đăng ký 7.341 đồng, chiếm hơn 1,1%GDP. Phụ lục 3: Danh sách các công ty niêm yết (tính đến 28/7/2006) Đây là kết quả khả quan đối với tình hình kinh tế trong nước vì các công ty niêm yết là loại hình công ty cổ phần có khả năng huy động vốn nhanh nhất và hiệu quả nhất cho nền kinh tế.
Mỗi công ty niêm yết hoạt động trên mỗi lĩnh vực khác nhau. Hiện nay các công ty niêm yết được chia thành các ngành chính như: thương mại; vật liệu xây dựng; năng lượng, dầu khí & gas; tài chính-ngân hàng; đồ ăn và 15 thức uống; đồ dùng trong nhà; khách sạn; giấy và bao bì; chất dẻo và chất hoá học; hải sản; viễn thông; vận chuyển. Một số công ty trước đây là doanh nghiệp nhà nước, thực hiện cổ phần hóa chuyển thành công ty cổ phần, trong đó nhà nước vẫn nắm một tỷ lệ cổ phần nhất định. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp niêm yết đã thành lập ra một câu lạc bộ các công ty niêm yết.
Câu lạc bộ này ra đời nhằm tạo điều kiện cho các công ty niêm yết trao đổi kinh nghiệm quản lý, điều hành doanh nghiệp, giúp tìm kiếm các cơ hội đầu tư, tìm tiếng nói chung về các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán với tinh thần hợp tác và đoàn kết. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp niêm yết giai đoạn hiện nay nhìn chung khá khả quan.