CHƯƠNG 1.1 Lý do chọn đề tài Lý thuyết cấu trúc vốn doanh nghiệp từ trước đến nay nhấn mạnh vai trò các đặc điểm trong nội bộ doanh nghiệp và một số đề cập đến các yếu tố vĩ mô trong việc xác định sự thay đổi của tỷ lệ nợ của một doanh nghiệp qua các năm với giả định là các thành phần tham gia thị trường là lý trí (rational). Tuy nhiên giả định trên luôn vấp phải những bất cập trong thực tế. Chính điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến độ chính xác của các lý thuyết truyền thống. Các nhân tố về đặc điểm của doanh nghiệp như quy mô tài sản, khả năng sinh lợi… trên thực tế không hoàn toàn giải thích hết những biến động trong cấu trúc vốn doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu khác nhau đôi lúc lại không cho ra những kết quả đồng nhất. Do đó, việc nới lỏng giả định về tính hợp lý của thị trường là một hướng đi mới góp phần giải thích rõ hơn các đóng góp của những lý thuyết truyền thống. Bài nghiên cứu tiếp cận vấn đề cấu trúc vốn doanh nghiệp trên phương diện tài chính hành vi. Với giả định nhà quản trị không phải hoàn toàn hợp lý (rational) và một góc nhìn mới trong đó xem xét vai trò của yếu tố tâm lý hành vi của nhà quản trị, bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp thêm một nhân tố đặc biệt giải thích sự thay đổi của tỷ lệ nợ trong công ty.
Đó là hiện tượng lệch lạc nhận thức mà nhà quản trị hay mắc phải: sự quá tự tin.2 Mục tiêu nghiên cứu. Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu yếu tố tâm lý quá tự tin của nhà quản trị có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghệp hay không? Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu từ trung tâm dữ liệu Reuters bao gồm 66 công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2006-2014 123doc 2 1.3 Phương pháp nghiên cứu Với mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng hồi quy GMM-sys cho dữ liệu bảng trong giai đoạn 2006-2014. Giả thuyết nghiên cứu chính của bài đó là sự tương quan giữa tâm lý quá tự tin của nhà quản trị ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu chính được dùng để kiểm định giả thuyết trên như sau: LEVit = α.LEVit-1 + Txit + ci + it Trong đó: LEVit: là tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp i trong năm t xit : là tập hơn các biến thể hiện cho đặc điểm của doanh nghiệp.
Bao gồm nhiều nhân tố như quy mô tài sản, giá trị thị trường doanh nghiệp, tâm lý quá tự tin của nhà quản trị… ci: là những yếu tố không quan sát đồng nhất và bất biến qua thời gian it : là thành phần phương sai của mô hình Các giá trị trên được thu thập dựa trên báo cáo thường niên và dữ liệu từ trung tâm dữ liệu Reuters. Những chỉ tiêu về đặc điểm doanh nghiệp sẽ được thay đổi xuyên suốt công trình nhằm tăng tính bền vững của kết quả cũng như giúp giải thích các giả thuyết được xây dựng trong bài.4 Đóng góp của đề tài Bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp vào khuôn khổ các lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp một hướng đi mới liên quan đến lĩnh vực tài chính hành vi. Kết quả của bài cũng kỳ vọng sẽ là một phần quan trọng trong quá trình phát triển và đề cao vai trò lĩnh vực học thuật mới này. Bên cạnh đó, đề tài này cũng đề cao tầm ảnh 123doc 3 hưởng của yếu tố quản trị doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định hiệu quả góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp.
Ngoài ra bài nghiên cứu cũng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các vận động trên thị trường vốn của doanh nghiệp tại Việt Nam: những biến động, đặc điểm và nguyên nhân. 123doc 4 CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm về những nhân tố ảnh hưởng đến những quyết định tài chính của các công ty. Trong tài chính doanh nghiệp truyền thống, có hai lý thuyết lớn về cấu trúc vốn được thừa nhận rộng rãi, đó là lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng.
Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn nên vay nợ nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ bởi vì các doanh nghiệp lớn được đa dạng hóa tốt hơn và rủi ro vỡ nợ thấp hơn. Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, các tài sản hữu hình ít sụt giảm giá trị hơn, do đó các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập được khấu trừ thuế nên có tỉ lệ nợ mục tiêu cao. 1Lý thuyết trật tự phân hạng dựa trên sự bất cân xứng thông tin giữa các giám đốc và các nhà đầu tư.
Thông tin bất cân xứng này ảnh hưởng đến các lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ bên ngoài, giữa phát hành chứng khoán nợ và vốn cổ phần. Theo lý thuyết này, nguồn vốn đầu tư trước tiên sẽ được huy động từ vốn cổ phần, chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư, rồi sau mới đến phát hành nợ mới và cuối cùng là bằng phát hành cổ phần mới. 2 Cả hai lý thuyết này tuy khác nhau về quan điểm nhưng đều dựa trên một giả định quan trọng: đó là hàm ý tất cả những người tham gia trên thị trường, kể cả nhà quản lý đều duy lý. Tuy nhiên, trên thực tế thì thị trường tồn tại những bất hoàn hảo và khoa học hành vi con người cũng chứng minh rằng con người không hoàn toàn duy lý và dễ mắc phải những lệch lạc.
Vì vậy, lý thuyết về tài chính hành vi gần đây nổi lên, như là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích những quyết định về tài chính của con người. Một trong 1 Trang 391, Chương 15, sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ chí Minh, NXB Thống Kê năm 2007 2 Trang 396, Chương 15, sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ chí Minh, NXB Thống Kê năm 2007 123doc 5 những lệch lạc phổ biến nhất, được thừa nhận rộng rãi nhất chính là sự quá tự tin. Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng nếu một nhà quản lý bị lệch lạc quá tự tin thì sẽ có xu hướng vay nợ nhiều hơn so với các nhà quản lý duy lý. 3Vì vậy, lệch lạc này có thể là một nhân tố quan trọng trong quyết định tài trợ của một công ty.
Bài nghiên cứu này tập trung xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE), đặc biệt là nhân tố quá tự tin tác động như thế nào đến mức độ nợ của một công ty. Ngoài ra bài nghiên cứu cũng sẽ xem xét 2 yếu tố hành vi này của nhà quản lý trong bối cảnh khác nhau của nền kinh tế nhằm làm rõ tác động của chúng đối với cấu trúc vốn doanh nghiệp. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình GMM-Sys nhằm giải quyết các hiện tượng nội sinh, tương quan đồng thời giữa các biến giải thích và biến công cụ, và hiện tương phương sai thay đổi trong mô hình. Các vấn đề này gây ra bởi các yếu tố tác động cố định hay ngẫu nhiên trong phương trình (hay phương pháp hồi quy dữ liệu bảng).
Các phần còn lại của bài nghiên cứu được trình bày như sau: - Phần 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan các nghiên cứu trước đây: cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn (lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng), lý thuyết tài chính hành vi về quá tự tin. - Phần 3: Phương pháp nghiên cứu: phần này sẽ trình bày mô hình và các kiểm định đượcsử dụng, cách thức thu thập dữ liệu tại sàn HOSE. - Phần 4: Kết quả: kết quả hồi quy, các kiểm định để khẳng định ý nghĩa của kết quả hồi quy và giải thích các kết quả có được này. 3 Theo Overconfident, Managerial Optimism and the Determinants of Capital Structure – Barros and Silveira (2007).
123doc 6 - Phần 5: Kết luận và các đề xuất: kết luận về bài nghiên cứu, những ưu điểm và hạn chế; một số kết luận rút ra được cho thị trường Việt Nam.1 Cơ sở lý thuyết Mặc dù có nhiều lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp truyền thống, tuy nhiên một cách tổng quát có thể chia các nhân tố tác động cấu trúc vốn doanh nghiệp vào 4 nhóm: Cải thiện mâu thuẫn lợi ích giữa các nhóm được hưởng lợi ích từ nguồn lợi công ty khác nhau, bao gồm cả nhà quản lý (tiếp cận theo chi phí đại diện) Truyền đạt thông tin nội bộ ra thị trường vốn hoặc làm giảm bớt hiệu ứng lựa chọn ngược (adverse selection effects) (tiếp cận theo bất cân xứng thông tin) Ảnh hưởng của trạng thái tự nhiên của sản phẩm hoặc đối thủ cạnh tranh trong thị trường sản phẩm/đầu vào Hoặc tác động đến kết quả của sự cạnh tranh kiểm soát doanh nghiệp4 Có thể kể đến 2 lý thuyết về cấu trúc vốn quan trọng nhất trong số đó là: Lý thuyết đánh đổi (trade-off theory) và Lý thuyết trật tự phân hạng (pecking order theory).2 Lý thuyết đánh đổi Các giám đốc tài chính thường coi quyết định về nợ-vốn cố phần của doanh nghiệp như là một đánh đổi giữa tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để 4 Theo The Theory of Capital Structure ( Milton Harris and Artur Raviv - The Journal of Finance, Volume 46, Issue 1 (Mar, 1991), p 297-355) 123doc 7 được khấu trừ nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Các công ty không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ phần.
Trong mô hình lý thuyết đánh đổi, công ty xác định tỷ lệ nợ mục tiêu bằng việc cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của một đôla nợ vay thêm. Chi phí của nợ thường bao gồm chi phí phá sản5 và xung đột về vấn đề đại diện giữa cổ đông và chủ nợ còn lợi ích thì đến từ tấm chắn thuế của lãi vay và việc giảm bớt những vấn đề về dòng tiền tự do.