Chương 1: Tổng quan về hành vi đầu tư và các nhân tô tác động đến quyết định dau tư cổ phiếu của nhà dau tư cá nhân Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và các nhân tô tác động đến quyết định đầu tư của nhà dau tư cá nhân trong giai đoạn 2016 đến nay. Chương 4: Khuyến nghị rút ra từ quá trình nghiên cứu cho các nhà dau tư ca nhân trên thị trường chứng khoản Việt Nam. CHUONG 1: TONG QUAN VE HANH VI ĐẦU TƯ VA CÁC NHÂN TO TAC DONG DEN QUYET DINH DAU TU CO PHIEU CUA NHA DAU TU CA NHAN 1. Tông quan tài liệu nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong những năm gần đây, xuất hiện ngày càng nhiều các nghiên cứu liên quan đến chu dé đầu tư chứng khoán. Don cử như Oprea và Brad (2014) nghiên cứu tác động của tâm lý thị trường đến giá cô phiếu niêm yết và lợi nhuận thị trường chứng khoán. Nghiên cứu đưa ra hai phát hiện, thứ nhất, tâm lý thị trường và lợi nhuận thị trường chứng khoán có mối tương quan tích cực; thứ hai, tác động của tâm lý thị trường diễn ra mạnh hơn đối với các cô phiếu nhỏ so với các cô phiếu lớn. Ở một nghiên cứu khác của Baker và Wurgler (2006) cũng đưa ra kết quả như trên.
Mian và Sankaraguruswamy (2012) đã xem xét tác động xu hướng hành vi của các NDT, được đo lường bằng tâm lý thị trường về sự nhạy cảm của giá cổ phiếu với thu nhập bất ngờ (Hệ số phản ứng thu nhập- Earnings Response Coefficients- ERCs). Bang cách sử dụng chi số tâm lý thị trường BW, tác giả phát hiện ra rằng khi chỉ số tâm lý cao, các NĐT có xu hướng đầu cơ cao, vì vậy họ đặt giá trị lạc quan quá mức vào dòng tiền dự kiến trong tương lai liên quan đến tài sản rủi ro như cô phiếu, bang cách đánh giá cao quy mô của dòng tiền hoặc bang cách đánh giá thấp rủi ro, dẫn đến họ định giá quá cao cô phiếu. Điều ngược lại là đúng với thời kỳ tâm lý thấp, khi các NDT đặt giá trị bi quan vào dòng tiền dự kiến trong tương lai và đánh giá thấp cổ phiếu. Sibanda (2020)** đã kiểm định về yếu tố tác động đến quyết định của NĐT trên Sở giao dich chứng khoán Zimbabwe.
Mục tiêu chính là xác định và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố hành vi đến quyết định đầu tư của các NDT cá nhân. Tác giả tiến hành khảo sát định lượng đối với 291 NDT cá nhân được lựa chọn ngẫu nhiên. Kết quả phân tích hồi quy bội được sử dụng dé tính toán hệ số tương quan của các yếu tố hành vi và quyết định đầu tư trong khi phân tích tương quan được sử dụng để đo lường độ mạnh của mối quan hệ giữa các biến độc lập. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy các biến dự báo có mối liên hệ cùng chiều và có ý nghĩa thong kê với biến ra quyết định của NDT cá nhân ở mức đáng kê 0,01 và 0,005.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng các quyết định của NĐT cá nhân còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hành vi; neo đậu, tính khả dụng, sự nguy biện của con bạc, quá tự tin, chăn dắt, chán ghét thua lỗ, tính toán tinh thần, ác cảm húi tiếc và tinh đại diện. Nghiên cứu khuyến nghị cần cải thiện thông tin về động lực thị trường chứng khoán cũng như dao tạo về các chương trình nâng cao nhận thức của NDT dé hỗ trợ khả năng ra quyết định của các NDT cá nhân trên ZSE dé phát huy hết vai trò của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nghiên cứu của Riaz và cộng sự (2020) về "Determinants of Stock Market Investors’ Behavior in COVID-19: A Study on the Pakistan Stock Exchange" cho thay SARS-CoV-2 là một trong những căn bệnh dễ lây lan nhất trong lich sử. Virus này đã lây nhiễm cho hàng triệu người vào năm 2020.
Bên cạnh việc giết chết một số lượng lớn con người, thiên tai không chỉ gây ra sự hoảng loạn và hỗn loạn nghiêm trọng, nó thậm chí còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán trên toàn cầu. Nghiên cứu này được thực hiện dé điều tra những yếu tô quyết định, ảnh hưởng đến mức độ hành vi của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán ở Pakistan trong lan truyền COVID-19. Dữ liệu được thu thập từ các nhà đầu tư cá nhân khác nhau, thé hiện mức tỷ lệ phản hồi khoảng 86,5% từ 167 người được hỏi. Từ phân tích đã chỉ ra răng hầu hết các yếu tố quan trọng và ảnh hưởng đáng kê đến quyết định đầu tư vào TTCK Pakistan phù hợp với: “giàu lên nhanh chóng, chán ghét thua lỗ, sợ thua lỗ, công ty được kỳ vọng thu nhập và cô tức, cảm nhận sâu sắc về nền kinh tế, hiệu suất trước đó của cổ phiếu của công ty và ý kiến của các cô đông đa số, cuối cùng là các khuyến nghị của các nhà môi giới và gia đình hoặc bạn bè.
Ngày nay có nhiều chỉ số đo lường tâm lý thị trường (tâm lý đầu tư) được sử dụng trên TTCK. Tùy vào các công ty tài chính, các sàn giao dịch trên thế giới, hay các tô chức nghiên cứu thị trường, người ta sử dụng các chỉ số khác nhau với nguồn dữ liệu khác nhau dé đo lường tâm lý thị trường như: chỉ số biến động quyền chọn (VIX), Credit Suisse Fear Barometer (CSFB), chỉ số niềm tin (AMSI),vv. Trong số đó, chỉ số tâm lý thị trường được xây dựng bởi Baker và Wurgler, 2007 được biết đến và phô biến giới học thuật bởi tính thực tế và giải thích cao của tâm lý đến lợi nhuận kỳ vọng của cô phiếu. Baker và Wugler (2007) lấy yếu tố tâm lý nha dau tư là biến ngoại sinh và tập trung vào tác động thực nghiệm của nó đến chỉ số giá chứng khoán.
Tác giả kết luận rằng hoàn toàn có thê đo lường được tâm lý của nhà đầu tư, và răng những làn sóng tâm lý có những tác động rõ rang, quan trong va thường xuyên trên các công ty tư nhân và trên thị trường chứng khoán nói chung. Đặc biệt, các cô phiếu khó định giá bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tâm lý nhà đầu tư. Theo đó, tác giả kiểm định sáu nhân tô cấu thành chỉ số tâm lý thị trường trên thị trường chứng khoán Mỹ trong thời gian 40 năm từ 1967-2007: (1) số lượng giao dịch được đo lường bởi doanh thu (thé hiện tính thanh khoản của thị trường), (2) phan bù cổ tức, (3) giao dịch của chứng chỉ quỹ đóng, (4) số lượng cổ phiếu phát hành lần đầu trên thị trường, (5) số lượng cô phiếu mới va (6) tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu lần đầu tiên phát hành trên thị trường. Kết quả cho thấy những nhân tổ này có thé dự báo được tâm lý nhà đầu tư tác động đến hành vi ra quyết định và tỷ suất sinh lời trong tương lai, đồng thời nó có tương quan tới tâm lý nhà đầu tư, mặc dù một số trong số đó có chứa những cá thê riêng biệt.
Bên cạnh đó, tác giả cũng chứng minh các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng GDP, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng không có độ tương quan với chỉ số tâm lý nhà đầu tư. Mo rộng phạm vi nghiên cứu ngoai thị trường chứng khoán Mỹ, Baker va cộng sự (2009) xây dựng các chỉ số tâm lý thị trường cho sáu thị trường chứng khoán lớn (Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) và tính cho toàn thé giới. Bài nghiên cứu tìm hiểu làm thé nao tâm lý thị trường toàn cau và địa phương ảnh hưởng tới TTCK. Tác giả chỉ ra rang tâm lý thị trường tương đối có tương quan với giá cổ phiếu của các công ty niêm yết, đặc biệt là đối với các công ty nhỏ, biến động cao và danh mục đầu tư tăng trưởng.
Hơn nữa, một đóng góp quan trọng của bài nghiên cứu là phát hiện ra chỉ số tâm lý thị trường quốc tế đã đóng một vai trò quan trọng trong các bong bóng và khủng hoảng trong quá khứ, đặc biệt trong những khoảng thời gian mà chỉ số tâm lý cao, khi đó các mức giá bị thôi phồng và vượt xa giá trị cơ bản. Một trong số các nghiên cứu đầy đủ nhất là nghiên cứu của Waweru và cộng sự (2008) khảo sát các nhân tố hành vi tác động đến nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Nairobi, Kenya. Nghiên cứu chi ra răng nhân tô tự nghiệm và triển vọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Bên cạnh đó là nhân tố thị trường, và biến ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là yếu tố cơ bản của chứng khoán cơ sở.
Ngoài ra nhân tố hiệu ứng đám đông cũng ảnh hưởng tới việc ra quyết định ở nơi đây. Ảnh hưởng rõ ràng nhất là đến quyết định mua, bán, khối lượng giao dịch, các nhân tố chọn cổ phiếu và thời gian năm giữ không có ý nghĩa trong bài nghiên cứu này. Nhìn chung, các khảo sát trước đây chủ yếu tập trung cho thị trường đã phát triển và nghiên cứu nhà đầu tư tô chức. Các nghiên cứu chi tập trung vào một khía cạnh nhất định trong thế giới tài chính hành vi.
Với mục đích hướng đến một nghiên cứu kết hợp các lý thuyết cơ bản nghiên cứu về hành vi tác động đến quyết định đầu tư cá nhân, khảo sát cho một thị trường mới nổi như Việt Nam, tác giả thiết kế nghiên cứu dựa vào các bài nghiên cứu trước đây, đặc biệt là nghiên cứu của Waweru và cộng sự (2008)- một nghiên cứu khá đầy đủ về hành vi của nhà đầu tư và khảo sát tự đánh giá về các quyết định đầu tư của nhà đầu tư theo nghiên cứu của Oderlechner và Osler (2004), dé đưa ra một cách tiếp cận mới cho các ứng dụng của lý thuyết tai chính hành vi trên thị trường chứng khoán. Huang và cộng sự (2013) đề xuất xây dựng chỉ số tâm lý thị trường mới được căn chỉnh dé dự đoán tổng hợp thị trường chứng khoán, dựa trên 6 biến được sử dụng của Baker và Wurgler (2006) và bằng cách sử dụng phương pháp PLS (Pool Least Square) của Kelly và Pruitt (2013). Kết quả bài nghiên cứu chứng minh được rằng tâm lý nhà đầu tư có sức mạnh dự đoán lớn hơn so với các biến vĩ mô đối với thị trường chứng khoán nói chung.