CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu Vào ngày 28-7-2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM chính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, đánh dấu mốc đầu tiên cho thị trƣờng chứng khoán (TTCK) Việt Nam ra đời và trải qua chặng đƣờng gần 13 năm phát tri ển mạnh mẽ cả về số lƣợng chứng khoán niêm yết và giá trị giao dịch. Từ hai công ty đƣợc niêm yết (cổ phiếu SAM và REE) và bốn công ty chứng khoán thành viên, đ ến nay thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã phát triển thành hai Sở giao dịch chứng khoán là: Sở giao dịch chứng khoán Tp. Đ ến tháng 9 năm 2013, HSX có 96 công ty chứng khoán thành viên và 345 ch ứng khoán niêm yết, HNX có 97 công ty chứng khoán thành viên và 386 ch ứng khoán niêm yết. So với lịch sử phát triển hàng trăm năm của các TTCK lớn trên thế giới thì thị trƣờng chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, quy mô hoạt động rất nhỏ và có nhiều biến động.
Giai đoạn đầu chập chững của TTCK Việt Nam kéo dài 5 năm đầu tiên từ 2000 – 2005, ngoại trừ cơn sốt vào năm 2001 (chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhƣng chỉ trong vòng chƣa đ ầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001), thì trong 5 năm này ch ỉ số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến 130 điểm. Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không hấp dẫn nhà đầu tƣ trong nƣớc. 123doc 3 Ngày 8/3/2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi vào hoạt động, thị trƣờng chứng khoán bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc. Đến năm 2006 có thể coi thị trƣờng chứng khoán có sự phát triển đột phá, hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao d ịch Hà Nội và thị trƣờng OTC.
Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 đi ểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006. Tuy nhiên, trong kho ảng thời gian từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tƣ vào cổ phiếu ở nƣớc ta mang tâm lý “đám đông”, cả những ngƣời có và không có kiến thức, hiểu biết về TTCK lẫn đều mua, bán theo phong trào, qua đó đã đ ẩy TTCK Việt Nam lúc này vào tình tr ạng “nóng” và dẫn đến hiện tƣợng “bong bóng thị trƣờng” khi hầu hết các cổ phiếu đều tăng giá liên t ục bất chấp cổ phiếu tốt hay xấu. Năm 2007 là một mốc đáng nhớ của TTCK Việt Nam khi VN-Index đạt đỉnh điểm cao nhất 1,170.67 điểm vào ngà y 12/03/2007 sau 7 năm hoạt động, rồi lại sụt giảm sâu 30% chỉ trong vòng 1 tháng sau đó và tiếp tục có nhiều đợt biến động hồi phục và sụt giảm trong suốt thời gian còn lại trong năm. Từ năm 2008 đến nay, dƣới ảnh hƣởng của nền kinh tế suy thoái, thị trƣờng bất động sản vỡ bong bóng, ngân hàng kh ủng hoảng với nợ xấu, ảnh hƣởng đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam biến động theo xu hƣớng xấu khi giá cổ phiếu liên tục lao dốc, VN-Index giảm xuống đáy thấp nhất vào ngày 24/02/2009 v ới 234.
Tuy có thời điểm phục hồi tăng trở lại 615.68 điểm vào ngày 23/10/2009, nhƣng v ới xu hƣớng giảm chung của thị trƣờng trong thời gian dài khiến niềm tin của nhà đầu tƣ suy giảm và hầu nhƣ thận trọng trong các quyết định giao dịch của mình. Nếu nhƣ trƣớc năm 2007, nhà đầu tƣ có thể kiếm đƣợc lợi nhuận từ việc đầu tƣ vào thị trƣờng chứng khoán, thì từ sau tháng 3 năm 2007, 123doc 4 nền kinh tế Việt Nam và thị trƣờng chứng khoán rơi vào khó khăn và khủng hoảng trầm trọng, nhất là giai đoạn 2008 – 2009 hầu hết những nhà đầu tƣ còn nắm giữ cổ phiếu đều bị thua lỗ. Đến nay, trong trạng thái giằng co tăng – giảm của thị trƣờng chứng khoán, nhiều nhà đầu tƣ vẫn muốn duy trì tài kho ản giao dịch chứng khoán và k ỳ vọng thị trƣờng phục hồi, lấy lại số vốn đầu tƣ ban đầu, thậm chí có thể có đƣợc lợi nhuận từ việc đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán. Nhƣng với những biến động bất thƣờng của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tƣ dƣờng nhƣ đang gặp nhiều khó khăn khi ra các quyết định đầu tƣ, bởi chỉ dựa vào các phân tích d ựa trên các lý thuyết tài chính, phân tích và d ự đoán của các chuyên gia của các công ty chứng khoán, các tổ chức tài chính lớn trong và ngoài nƣớc trong thời gian vừa qua đã hầu nhƣ không đúng với diễn biến thực tế.
Vậy, phƣơng pháp nào có th ể hỗ trợ cho nhà đầu tƣ dự đoán, kiểm soát đƣợc xu hƣớng vận động của thị trƣờng, nhằm giảm thiểu rủi ro và quản lý danh mục đầu tƣ hiệu quả trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh giằng co hiện nay? Các lý thuyết dựa trên các phân tích tâm lý đ ể giải thích những diễn biến bất thƣờng trên thị trƣờng chứng khoán. Dựa vào các yếu tố tâm lý không thể cung cấp một phƣơng thức đầu tƣ kỳ diệu nhƣng có thể giúp các nhà đầu tƣ cẩn trọng hơn đối với các hành vi đầu tƣ của mình, từ đó có thể tránh đƣợc những sai lầm khiến họ có thể nghèo hơn. Hiện nay, những nghiên cứu theo khuynh hƣớng tâm lý vẫn còn nhiều giới hạn và là chủ đề khá mới ở Việt Nam. Tuy vậy, theo kết quả cuộc thăm dò của Tổ chức nghiên cứu thị trƣờng BVA của Pháp hội Quốc tế Gallup phối hợp thực hiện cuối năm 2010 tại 53 quốc gia và công bố ngày 03/01/2011, Việt Nam đứng đầu nhóm nƣớc lạc quan nhất thế giới với 70% ngƣời Việt Nam tin tƣởng vào triển vọng kinh tế nƣớc nhà năm 2011.
123doc 5 Vì vậy tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến hiệu quả của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam”; tập trung nghiên c ứu tìm ra những yếu tố tâm lý tác động đến nhà đầu tƣ cá nhân và làm ảnh hƣởng kết quả đầu tƣ của họ trên thị trƣờng chứng khoán, từ đó hỗ trợ nhà đầu tƣ cá nhân cũng nhƣ những công ty chứng khoán Việt Nam có có quyết định đầu tƣ hiệu quả hơn.2 V n đề nghiên cứu Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều biến động, từ giai đoạn sơ khai, giai đoạn phát triển nóng, giai đoạn suy giảm và hiện tại xu hƣớng thị trƣờng không rõ ràng. Và một đặc điểm quan trọng là thị trƣờng Việt Nam chủ yếu là các nhà đầu tƣ cá nhân, các tổ chức và quỹ đầu tƣ chƣa phát triển mạnh. Vậy vấn đề là tìm ra đƣợc yếu tố nào tác động đến hiệu quả của nhà đầu tƣ. Một cách tiếp cận mới là xem xét ảnh hƣởng của nhân tố tâm lý đến hiệu quả của nhà đầu tƣ cá nhân sẽ cho ta thấy rõ hơn điều đó.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này là ứng dụng các lý thuyết về yếu tố tâm lý để: 1.
Nhận dạng các yếu tố tâm lý của nhà đầu tƣ cá nhân trên th ị trƣờng chứng khoán Việt Nam thông qua các biến quan sát. Đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố tâm lý đến hiệu quả của nhà đầu tƣ cá nhân. Câu hỏi nghiên cứu: 123doc 6 1. Nhà đầu tƣ cá nhân trên th ị trƣờng chứng khoán Việt Nam tồn tại nhứng yếu tố tâm lý nào? 2.
Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố tâm lý đến hiệu quả của nhà đầu tƣ cá nhân ? 1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Do những giới hạn về thời gian nghiên cứu, nên tác giả chỉ tập trung vào đối tƣợng nghiên cứu là những ngƣời đã từng hoặc vẫn đang tham gia trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đang sinh s ống và làm việc ở địa bàn TP. Đây là nơi có khối lƣợng và giá trị giao dịch lớn nhất Việt Nam. Dữ liệu sử dụng để nghiên cứu là 200 bảng câu hỏi khảo sát đƣợc trả lời bởi các nhà đầu tƣ cá nhân trên th ị trƣờng chứng khoán Việt Nam.5 Kết c u luận văn Luận văn đƣợc trình bày thành 5 nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Giới thiệu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tâm lý và hiệu quả đầu tƣ.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên c ứu và dữ liệu. Chƣơng 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận. 123doc 7 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ 2.1 Lý thuyết về các yếu tố tâm lý Lý thuyết tài chính chính th ống đã lý giải thị trƣờng tại chính bằng cách đặt cơ sở trên quan điểm là những ngƣời tham gia thị trƣờng là những cá nhân duy lý, tối đa hoá lợi ích mong đợi một cách chính xác và xử lý tất cả những thông tin có s ẵn (Shiller, 1998).
Ha y nói cách khác, mọi thông tin trên thị trƣờng hiệu quả đều đƣợc công khai, phản ánh vào trong giá của tài sản tài chính. Thị trƣờng hiệu quả luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trƣờng về trạng thái cân bằng, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Nguyên tắc của cơ chế kinh doanh chênh lệch giá là khi tồn tại hiện tƣợng định giá sai trên thị trƣờng, hay giá của các tài sản tài chính trên thị trƣờng không phản ánh một cách chính xác giá tr ị hợp lý (dựa trên những yếu tố cơ bản), thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Khi đó “những nhà đầu tƣ hợp lý” sẽ tận dụng cơ hội để mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao.
Hành động này sẽ góp phần điều chỉnh thị trƣờng về trạng thái cân bằng hợp lý. Tuy nhiên, thực tế về tổng thể thị trƣờng chứng khoán thì thu nh ập trung bình và hành vi mua bán c ủa cá nhân không d ễ dàng để hiểu theo lý thuyết tài chính chính thống.