Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công bố thông tin về báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ phân tích công bố thông tin báo cáo bộ phận của công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2018

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Bố cục đề tài

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN

1.1.1. Quá trình hình thành các quy định về báo cáo bộ phận

1.1.2. Nội dung báo cáo bộ phận

1.1.3. Vai trò của báo cáo bộ phận

1.1.4. Quy định về trình bày báo cáo bộ phận

1.1.5. Đo lường mức độ công bố thông tin về báo cáo bộ phận

1.2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN

1.2.1. Các nghiên cứu ở các nước

1.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN

2.1.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory)

2.1.2. Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory)

2.1.3. Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory)

2.1.4. Lý thuyết kinh tế thông tin (Information economics theory)

2.1.5. Lý thuyết chi phí độc quyền (Exclusive cost theory)

2.2. XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.2.1. Công ty kiểm toán

2.2.2. Thời gian niêm yết

2.2.3. Tỷ suất sinh lời

2.2.4. Đòn bẩy tài chính

2.2.5. Tốc độ tăng trưởng

2.2.6. Cơ cấu sở hữu

2.2.7. Lĩnh vực hoạt động công nghiệp

2.2.8. Khả năng thanh toán

2.2.9. Mức độ độc lập của hội đồng quản trị và ban giám đốc

2.2.10. Sự kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc

2.3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết lập mô hình

2.3.2. Đo lường biến phụ thuộc

2.3.3. Đo lường các biến độc lập

2.4. MẪU NGHIÊN CỨU

2.4.1. Quy mô mẫu nghiên cứu

2.4.2. Thu thập dữ liệu

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1.1. Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin về báo cáo bộ phận

3.1.2. So sánh mức độ tuân thủ CBTT về BCBP của các loại BCTC

3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN

3.2.1. Đối với báo cáo tài chính cuối niên độ

3.2.2. Đối với báo cáo tài chính bán niên

3.2.3. Đối với báo cáo tài chính quý 2

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN BÁO CÁO BỘ PHẬN

4.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

4.2.1. Hàm ý từ sự ảnh hưởng của công ty kiểm toán

4.2.2. Hàm ý từ sự ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng

4.2.3. Chú trọng đến sự kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc

4.2.4. Một số kiến nghị khác

4.3. Kết quả đạt được

4.4. Hạn chế của nghiên cứu

4.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Công Bố Báo Cáo Bộ Phận Tại HOSE

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) đã phát triển gần hai thập kỷ, với sự gia tăng số lượng công ty niêm yết (CTNY) và sự ổn định hóa. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và cung cấp vốn cho các công ty. Công bố thông tin (CBTT) của các CTNY ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư, đặc biệt là thông tin tài chính. Các CTNY cung cấp thông tin cho các đối tượng bên trong và bên ngoài công ty. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách giữa mong đợi và thực tế về cách thông tin được trình bày và công bố. Sự đa dạng hóa và chiến lược quốc tế dẫn đến hoạt động của các công ty ngày càng phức tạp. Các công ty và tập đoàn đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thành các công ty đa ngành nghề và mở rộng trên nhiều khu vực địa lý. Mục tiêu là chia sẻ rủi ro và tận dụng cơ hội phát triển ở các thị trường khác.

1.1. Tầm quan trọng của thông tin báo cáo bộ phận

Báo cáo tài chính hợp nhất không thể hiện cái nhìn tổng thể về thông tin tài chính do sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng, khả năng sinh lời và rủi ro trong từng bộ phận. Theo Knutson (1993), thông tin bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu cho quá trình phân tích đầu tư. Nguyễn Hữu Cường (2015) tóm lược rằng thông tin báo cáo bộ phận hữu ích cho nhà phân tích vì nó là cơ sở để dự báo doanh thu và lợi nhuận, cần thiết để đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế.

1.2. Thực trạng công bố thông tin báo cáo bộ phận tại Việt Nam

Hiện nay, các công ty Việt Nam đang CBTT về BCBP theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28). Tuy nhiên, nhiều công ty chưa có hiểu biết rõ ràng, chưa lưu tâm đầy đủ đến việc lập và trình bày BCBP, hoặc lập một cách sơ sài chỉ để tuân thủ quy định. Loại BCBP này ngày càng quan trọng giúp nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ về công ty. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu sâu rộng về khía cạnh CBTT về BCBP của các CTNY.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu và Mục Tiêu Của Báo Cáo Bộ Phận

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá mức độ CBTT về BCBP trên ba loại BCTC: BCTC cuối niên độ, BCTC bán niên và BCTC quý 2 của các CTNY trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Nghiên cứu cũng khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP của các CTNY, từ đó đề xuất các chính sách cho công ty và nhà quản lý gia tăng các thông tin cần thiết, góp phần giảm rủi ro cho nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng CBTT về BCBP và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin được công bố.

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu về báo cáo bộ phận

Nghiên cứu tập trung vào việc CBTT về BCBP của các CTNY trên HOSE năm 2015. Ngoài ra, đề tài nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP của các công ty này. Phạm vi nghiên cứu bao gồm: BCTC cuối niên độ đã kiểm toán, BCTC bán niên đã soát xét và BCTC quý 2 của các CTNY trên HOSE có thực hiện việc lập BCBP. Dữ liệu nghiên cứu được lấy trong năm 2015.

2.2. Phương pháp nghiên cứu và bố cục đề tài báo cáo bộ phận

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp gồm các BCTC cuối niên độ đã được kiểm toán, BCTC bán niên đã soát xét và BCTC quý 2 năm 2015. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP. Bố cục đề tài gồm: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin báo cáo bộ phận; Thiết kế nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu; Hàm ý chính sách và kiến nghị.

III. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Về Công Bố Báo Cáo Bộ Phận

Các nghiên cứu liên quan đến BCBP trên thế giới và Việt Nam hiện nay chưa có nhiều, các hướng nghiên cứu thường tập trung ở ba khía cạnh: đo lường mức độ CBTT về BCBP, thảo luận về chuẩn mực mới so với chuẩn mực cũ trước đây và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố và ảnh hưởng của chúng đến việc trình bày BCBP. Đa phần các nghiên cứu này được thực hiện trên BCTC năm, rất ít nghiên cứu thực hiện trên BCTC bán niên và đặc biệt trên BCTC quý 2 lại càng khan hiếm.

3.1. Các phương pháp đo lường mức độ CBTT báo cáo bộ phận

Liên quan đến khía cạnh đo lường mức độ CBTT, các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận theo hai cách. Một là sử dụng lại mức độ CBTT đã được các tổ chức độc lập đo lường. Theo Nguyễn Hữu Cường (2015), cách thứ hai là các nhà nghiên cứu sẽ tự xây dựng thang đo, trong đó hệ thống các chỉ mục được lựa chọn trên cơ sở các quy định về CBTT về BCBP có liên quan.

3.2. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến CBTT báo cáo bộ phận

Alfaraih và Alanezi (2011) tập trung vào mức độ tuân thủ các yêu cầu bắt buộc của chuẩn mực kế toán quốc tế – Segment Reporting (IAS) 14 và sử dụng lý thuyết thông tin bất đối xứng để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố bao gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời và chất lượng công ty kiểm toán đến mức độ CBTT về BCBP. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc xem xét các chỉ tiêu bắt buộc, không xem xét đến mức độ tuân thủ các chỉ tiêu tự nguyện của các công ty này.

3.3. So sánh các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam về BCBP

Hessling và Jakkola (2008) nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP các công ty ở Thụy Điển, Pardal và Morais (2012) nghiên cứu các CTNY ở Tây Ban Nha, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra rằng mức độ CBTT về BCBP được lập theo lĩnh vực kinh doanh (LVKD) cao hơn hẳn so với BCBP được lập theo khu vực địa lý (KVĐL). Một số nghiên cứu lại tập trung vào xem xét mức độ CBTT về BCBP của những CTNY ở một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế cụ thể.

IV. Nhân Tố Ảnh Hưởng Mức Độ Công Bố Báo Cáo Bộ Phận

Các nghiên cứu trước khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP như quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, cơ chế quản trị công ty, công ty kiểm toán. Chẳng hạn, Alfaraih và Alanezi (2011), Pardal và Morais (2012) đều cho rằng quy mô công ty càng lớn thì mức độ CBTT về BCBP càng cao. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Phương Thúy (2010) kiểm chứng được rằng quy mô công ty không ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP.

4.1. Mối quan hệ giữa quy mô công ty và CBTT báo cáo bộ phận

Kevin và Zain (2001) khi xác định các yếu tố tác động đến BCBP của các công ty Malaysia chỉ ra rằng quy mô công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT về BCBP hơn là những nhân tố khác như đòn bẩy tài chính hay tình trạng niêm yết. Bradbury (1992) cũng chỉ ra rằng quy mô công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT BCBP tự nguyện. Tuy nhiên, Mahajan và Chander (2007) lại không tìm thấy sự liên quan nào giữa mức độ CBTT BCBP và thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, đòn bẩy, mô hình cổ phần, và tình trạng cư trú của một công ty.

4.2. Ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán mới đến CBTT báo cáo bộ phận

Việc áp dụng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - Statement of Financial Accounting Standards (SFAS) 131 thực sự đã đem lại cho người sử dụng nhiều lợi ích hơn, nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự thay đổi chuẩn mực BCBP của Hoa Kỳ đã làm tăng số lượng các bộ phận được trình bày trong báo cáo. Herrmann và Thomas (2000) chỉ ra rằng sự thay đổi đối với các yêu cầu về BCBP theo SFAS 131 đã có tác động tích cực tương đối đáng kể đến mức độ CBTT về BCBP.

V. Nghiên Cứu Thực Nghiệm Tại Việt Nam Về Báo Cáo Bộ Phận

Ở Việt Nam gần đây cũng đã có một vài nghiên cứu về thực trạng lập và trình bày BCBP cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Lê Thị Hà (2015) sử dụng phương pháp thống kê mô tả để kiểm tra mức độ CBTT về BCBP trên BCTC năm của 140 CTNY trên HOSE đồng thời kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến nó thông qua các tham số hồi quy được ước lượng bằng phương pháp OLS.

5.1. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến lập báo cáo bộ phận

Một số nghiên cứu khác tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lập và trình bày BCBP trên BCTC năm như nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thúy (2011), Trần Thị Thúy An (2013), Nguyễn Thị Kim Nhung (2013). Nguyễn Thị Phương Thúy (2011) chỉ ra rằng khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính và độ phân tán quyền sở hữu có mối tương quan với việc trình bày BCBP trên BCTC năm, trong khi đó quy mô công ty và công ty kiểm toán không có sự tương quan.

5.2. Hạn chế trong các nghiên cứu hiện tại về báo cáo bộ phận

Các nghiên cứu này hầu như đều sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, kiểm định sự tương quan của biến phụ thuộc và các biến độc lập thông qua các tham số hồi quy bằng phương pháp OLS. Các nhân tố liên quan đến đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) như mức độ độc lập của HĐQT và ban giám đốc (BGĐ) hay sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ chưa được chú trọng nhiều khi xem xét nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT BCBP.

VI. Khoảng Trống Nghiên Cứu và Hướng Phát Triển Báo Cáo Bộ Phận

Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan cả trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả nhận thấy còn một số khoảng trống nhất định. Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài có chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP. Tuy nhiên, các công trình này bị giới hạn ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển.

6.1. Sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam

Về việc trình bày BCBP thường là theo IFRS 8, đây là chuẩn mực mới nhất và nhiều yêu cầu hơn về trình bày BCBP. Ở nước ta các doanh nghiệp trình bày BCBP vẫn đang áp dụng theo VAS 28 và chưa có sự thay đổi nhiều so với chuẩn mực kế toán quốc tế.

6.2. Sự cần thiết của nghiên cứu BCTC bán niên và quý

Tuy vậy, các nghiên cứu về BCBP khảo sát trên BCTC bán niên và quý 2 hiện nay kể cả trên thế giới và Việt Nam là rất ít. Các nhân tố liên quan đến đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) như mức độ độc lập của HĐQT và ban giám đốc (BGĐ) hay sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ chưa được chú trọng nhiều khi xem xét nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT BCBP.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Thị trƣờng chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã trải qua gần mƣời chín năm hoạt động. Số lƣợng các công ty niêm yết (CTNY) ngày càng tăng, đồng thời hoạt động của thị trƣờng này cũng đang dần ổn định và chuyên nghiệp hơn. Điều này góp phần làm lành mạnh hơn thị trƣờng đầu tƣ và tạo thuận lợi đối với kênh dẫn vốn cho các công ty.

Công bố thông tin (CBTT) của các CTNY trên TTCK ảnh hƣởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tƣ, trong đó thông tin về tài chính chiếm vị trí trọng yếu. Nó là một trong những kênh thông tin mà các CTNY đƣợc yêu cầu cung cấp trên TTCK. Các CTNY đó chủ yếu cung cấp thông tin cho các đối tƣợng bên ngoài (phục vụ cho các nhà đầu tƣ và nhà phân tích) và bên trong công ty. Tuy nhiên, thông tin đƣợc trình bày và công bố nhƣ thế nào để đáp ứng đƣợc nhu cầu ngƣời sử dụng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế.

Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, sự đa dạng hóa và những chiến lƣợc quốc tế dẫn đến hoạt động của các công ty ngày càng phức tạp. Với thực tế hiện nay các công ty và tập đoàn bắt đầu đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thành các công ty đa ngành nghề (thông tin này thƣờng đƣợc công ty đề cập ở phần đặc điểm hoạt động kinh doanh trong thuyết minh (TM) BCTC) và hoạt động kinh doanh mở rộng trên nhiều khu vực địa lý (KVĐL) khác nhau (trên nhiều tỉnh, thành phố trong nƣớc hay bên ngoài lãnh thổ Việt Nam). Mục tiêu chính của sự đa dạng hóa này là để chia sẻ rủi ro cũng nhƣ tận dụng lợi thế từ cơ hội phát triển ở những thị trƣờng khác. Với sự đa dạng và toàn cầu hóa mạnh mẽ nhƣ vậy thì rõ ràng bản thân BCTC hợp nhất sẽ không thể hiện đƣợc cái nhìn tổng thể về thông tin tài chính một cách đúng và hoàn toàn chính xác cho ngƣời sử dụng BCTC vì sự khác nhau về tốc độ tăng trƣởng, khả năng sinh lời và những rủi ro trong từng bộ phận.

Họ sẽ không dễ (luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 2 dàng nhận biết đƣợc nếu không có sự trình bày của những thông tin riêng biệt từ những bộ phận tạo ra hoạt động đó. Trong một nghiên cứu đƣợc phát triển bởi Knutson (1993) chỉ ra rằng tính hữu ích của thông tin bộ phận đƣợc định nghĩa là quan trọng, cần thiết, cơ bản và không thể thiếu đối với quá trình phân tích đầu tƣ. Hơn nữa, Nguyễn Hữu Cƣờng (2015) đã tóm lƣợc rằng thông tin về báo cáo bộ phận (BCBP) rất hữu ích đối với các nhà phân tích vì nó là cơ sở để họ dự báo doanh thu và lợi nhuận (hợp nhất) của đơn vị báo cáo (Vivek và Richard, 2002), cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế các công ty (Don và Wayne, 1997). Hiện nay tại Việt Nam, các công ty đang CBTT về BCBP theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28).

Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng nhiều công ty vẫn chƣa có sự hiểu biết rõ ràng, chƣa lƣu tâm đầy đủ đến việc lập và trình bày BCBP hoặc lập một cách sơ sài chỉ với mục đích tuân thủ các quy định. Loại BCBP này ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với ngƣời đọc BCTC, giúp nhà đầu tƣ có cái nhìn đầy đủ về công ty, hiểu rõ hơn về hoạt động của công ty. Liên quan đến khía cạnh CBTT về BCBP của các CTNY thì hiện nay ở Việt Nam chƣa có nhiều nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu công bố thông tin về báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” để hoàn thành Luận văn của mình.

Mụ t êu ng ên ứu - Đánh giá mức độ CBTT về BCBP trên cả ba loại BCTC gồm BCTC cuối niên độ, BCTC bán niên và BCTC quý 2 của các CTNY trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). - Khảo sát các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP của các CTNY. Qua đó tác giả đề xuất các chính sách cho công ty và nhà quản lý gia tăng các thông tin cần thiết, góp phần giảm rủi ro cho nhà đầu tƣ.minh download by : skknchat@gmail.minh 3 Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng CBTT về BCBP từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin đƣợc công bố trên BCBP của các CTNY trên HOSE. Đố tƣợng và p ạm v ng ên ứu  Đố tƣợng ng ên ứu Nghiên cứu việc CBTT về BCBP của các CTNY trên HOSE năm 2015.

Ngoài ra, đề tài nghiên cứu một số nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP của các công ty này nhƣ thế nào.  P ạm v ng ên ứu: - Không gian: BCTC cuối niên độ đã kiểm toán, BCTC bán niên đã soát xét và BCTC quý 2 của các CTNY trên HOSE có thực hiện việc lập BCBP. - Thời gian: Dữ liệu nghiên cứu đƣợc lấy trong năm 2015. P ƣơng p áp ng ên ứu Nghiên cứu này áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng.

Nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp gồm các BCTC cuối niên độ đã đƣợc kiểm toán của 174 công ty, BCTC bán niên đã soát xét của 160 công ty và BCTC quý 2 của 80 công ty năm 2015 đƣợc niêm yết trên HOSE. Tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP từ đó xác định mối tƣơng quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc thông qua các tham số hồi quy đƣợc ƣớc lƣợng bằng phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất (OLS). Bố ụ đề tà Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin báo cáo bộ phận Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu (luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 4 Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Các nghiên cứu liên quan đến BCBP trên thế giới và Việt Nam hiện nay chƣa có nhiều, các hƣớng nghiên cứu thƣờng tập trung ở ba khía cạnh là đo lƣờng mức độ CBTT về BCBP, thảo luận về chuẩn mực mới so với chuẩn mực cũ trƣớc đây và đƣa ra các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố và ảnh hƣởng của chúng đến việc trình bày BCBP.

Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này đƣợc thực hiện trên BCTC năm, rất ít nghiên cứu thực hiện trên BCTC bán niên và đặc biệt trên BCTC quý 2 lại càng khan hiếm. Liên quan đến khía cạnh đo lƣờng mức độ CBTT, các nghiên cứu trƣớc đây thƣờng tiếp cận theo hai cách. Một là sử dụng lại mức độ CBTT đã đƣợc các tổ chức độc lập đo lƣờng nhƣ việc đo lƣờng mức độ CBTT đƣợc công bố hàng năm bởi Hiệp hội Quản lý và Nghiên cứu Đầu tƣ hoặc đƣợc cung cấp bởi Trung tâm nghiên cứu và phân tích tài chính quốc tế (CIFAR 1). Theo Nguyễn Hữu Cƣờng (2015), cách thứ hai là các nhà nghiên cứu sẽ tự xây dựng thang đo, trong đó hệ thống các chỉ mục đƣợc lựa chọn trên cơ sở các quy định về CBTT về BCBP có liên quan (Ahmad, 2008; Al-Shammari và cộng sự, 2008; Artiach và Clarkson, 2014; Beattie, McInnes và Fearnley, 2004; Beyer, Cohen, Lys, và Walther, 2010).

Đối với khía cạnh nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP và các nhân tố ảnh hƣởng, Alfaraih và Alanezi (2011)tập trung vào mức độ tuân thủ các yêu cầu bắt buộc của chuẩn mực kế toán quốc tế – Segment Reporting (IAS) 14 và sử dụng lý thuyết thông tin bất đối xứng để phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố bao gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động, đòn bầy tài chính, khả năng sinh lời và chất lƣợng công ty kiểm toán đến mức độ CBTT về BCBP. 1 Cả hai xếp hạng bên ngoài về CBTT bởi Hiệp Hội Quản Lý và Nghiên Cứu Đầu Tƣ và CIFAR đều không còn tiếp tục nữa.minh download by : skknchat@gmail.minh 5 Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc xem xét các chỉ tiêu bắt buộc, không xem xét đến mức độ tuân thủ các chỉ tiêu tự nguyện của các công ty này. Hessling và Jakkola (2008) nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP các công ty ở Thụy Điển, Pardal và Morais (2012) nghiên cứu các CTNY ở Tây Ban Nha, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra rằng mức độ CBTT về BCBP đƣợc lập theo lĩnh vực kinh doanh (LVKD) cao hơn hẳn so với BCBP đƣợc lập theo khu vực địa lý (KVĐL). Một số nghiên cứu lại tập trung vào xem xét mức độ CBTT về BCBP của những CTNY ở một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế cụ thể và ảnh hƣởng tích cực từ việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế - Operating Segments (IFRS 8) đến việc cải thiện chất lƣợng và số lƣợng trình bày BCBP.

Benjamin và cộng sự (2010) khảo sát thực trạng lập BCBP của các công ty lớn ở Malaysia trong năm LVKD là điện thoại viễn thông, nƣớc giải khát, truyền thông in ấn, truyền thông điện tử và tiện ích xã hội. Benjamin và cộng sự (2010) sử dụng lý thuyết chi phí độc quyền và nhấn mạnh đến một số ít các công ty ở Malaysia không cung cấp bất kỳ một BCBP nào, trái ngƣợc với tất cả các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của họ lại đều tuân thủ. Hay Hyderabad và Pradeepkumar (2011) nghiên cứu về thực trạng lập và trình bày BCBP của 45 CTNY ở Ấn Độ trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nghiên cứu này chỉ ra rằng có một khoảng cách lớn giữa các quy định đặt ra và thực tiễn CBTT về BCBP của các công ty này.Tuy nhiên cả hai nghiên cứu này đều dừng lại ở việc sử phƣơng pháp thống kê mô tả trong nghiên cứu của mình.

Các nghiên cứu trƣớc khảo sát các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP nhƣ quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, cơ chế quản trị công ty, công ty kiểm toán v. Chẳng hạn, Alfaraih và Alanezi (2011), Pardal và Morais (2012) đều cho rằng quy mô công ty càng lớn thì (luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 6 mức độ CBTT về BCBP càng cao. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Phƣơng Thúy (2010) kiểm chứng đƣợc rằng quy mô công ty không ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Công Bố Thông Tin Báo Cáo Bộ Phận Các Công Ty Niêm Yết Tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc công bố thông tin và báo cáo của các công ty niêm yết, từ đó giúp các nhà đầu tư và các bên liên quan hiểu rõ hơn về tình hình tài chính và hoạt động của các doanh nghiệp. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các quy định và yêu cầu về công bố thông tin mà còn phân tích tác động của việc công khai thông tin đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và cấu trúc vốn trong ngành chứng khoán, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh, nơi phân tích các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Ngoài ra, tài liệu Tác động của các yếu tố hành vi đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố hồ chí minh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà tâm lý và hành vi của nhà đầu tư ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu thường của các công ty chứng khoán cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch tp hcm giai đoạn 2018 2023, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quan hơn về thị trường chứng khoán.

Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá giúp bạn mở rộng kiến thức và đưa ra quyết định đầu tư thông minh hơn.