MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Thị trƣờng chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã trải qua gần mƣời chín năm hoạt động. Số lƣợng các công ty niêm yết (CTNY) ngày càng tăng, đồng thời hoạt động của thị trƣờng này cũng đang dần ổn định và chuyên nghiệp hơn. Điều này góp phần làm lành mạnh hơn thị trƣờng đầu tƣ và tạo thuận lợi đối với kênh dẫn vốn cho các công ty.
Công bố thông tin (CBTT) của các CTNY trên TTCK ảnh hƣởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tƣ, trong đó thông tin về tài chính chiếm vị trí trọng yếu. Nó là một trong những kênh thông tin mà các CTNY đƣợc yêu cầu cung cấp trên TTCK. Các CTNY đó chủ yếu cung cấp thông tin cho các đối tƣợng bên ngoài (phục vụ cho các nhà đầu tƣ và nhà phân tích) và bên trong công ty. Tuy nhiên, thông tin đƣợc trình bày và công bố nhƣ thế nào để đáp ứng đƣợc nhu cầu ngƣời sử dụng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế.
Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, sự đa dạng hóa và những chiến lƣợc quốc tế dẫn đến hoạt động của các công ty ngày càng phức tạp. Với thực tế hiện nay các công ty và tập đoàn bắt đầu đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thành các công ty đa ngành nghề (thông tin này thƣờng đƣợc công ty đề cập ở phần đặc điểm hoạt động kinh doanh trong thuyết minh (TM) BCTC) và hoạt động kinh doanh mở rộng trên nhiều khu vực địa lý (KVĐL) khác nhau (trên nhiều tỉnh, thành phố trong nƣớc hay bên ngoài lãnh thổ Việt Nam). Mục tiêu chính của sự đa dạng hóa này là để chia sẻ rủi ro cũng nhƣ tận dụng lợi thế từ cơ hội phát triển ở những thị trƣờng khác. Với sự đa dạng và toàn cầu hóa mạnh mẽ nhƣ vậy thì rõ ràng bản thân BCTC hợp nhất sẽ không thể hiện đƣợc cái nhìn tổng thể về thông tin tài chính một cách đúng và hoàn toàn chính xác cho ngƣời sử dụng BCTC vì sự khác nhau về tốc độ tăng trƣởng, khả năng sinh lời và những rủi ro trong từng bộ phận.
Họ sẽ không dễ (luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 2 dàng nhận biết đƣợc nếu không có sự trình bày của những thông tin riêng biệt từ những bộ phận tạo ra hoạt động đó. Trong một nghiên cứu đƣợc phát triển bởi Knutson (1993) chỉ ra rằng tính hữu ích của thông tin bộ phận đƣợc định nghĩa là quan trọng, cần thiết, cơ bản và không thể thiếu đối với quá trình phân tích đầu tƣ. Hơn nữa, Nguyễn Hữu Cƣờng (2015) đã tóm lƣợc rằng thông tin về báo cáo bộ phận (BCBP) rất hữu ích đối với các nhà phân tích vì nó là cơ sở để họ dự báo doanh thu và lợi nhuận (hợp nhất) của đơn vị báo cáo (Vivek và Richard, 2002), cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế các công ty (Don và Wayne, 1997). Hiện nay tại Việt Nam, các công ty đang CBTT về BCBP theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28).
Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng nhiều công ty vẫn chƣa có sự hiểu biết rõ ràng, chƣa lƣu tâm đầy đủ đến việc lập và trình bày BCBP hoặc lập một cách sơ sài chỉ với mục đích tuân thủ các quy định. Loại BCBP này ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với ngƣời đọc BCTC, giúp nhà đầu tƣ có cái nhìn đầy đủ về công ty, hiểu rõ hơn về hoạt động của công ty. Liên quan đến khía cạnh CBTT về BCBP của các CTNY thì hiện nay ở Việt Nam chƣa có nhiều nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu công bố thông tin về báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” để hoàn thành Luận văn của mình.
Mụ t êu ng ên ứu - Đánh giá mức độ CBTT về BCBP trên cả ba loại BCTC gồm BCTC cuối niên độ, BCTC bán niên và BCTC quý 2 của các CTNY trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). - Khảo sát các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP của các CTNY. Qua đó tác giả đề xuất các chính sách cho công ty và nhà quản lý gia tăng các thông tin cần thiết, góp phần giảm rủi ro cho nhà đầu tƣ.minh download by : skknchat@gmail.minh 3 Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng CBTT về BCBP từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin đƣợc công bố trên BCBP của các CTNY trên HOSE. Đố tƣợng và p ạm v ng ên ứu Đố tƣợng ng ên ứu Nghiên cứu việc CBTT về BCBP của các CTNY trên HOSE năm 2015.
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu một số nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP của các công ty này nhƣ thế nào. P ạm v ng ên ứu: - Không gian: BCTC cuối niên độ đã kiểm toán, BCTC bán niên đã soát xét và BCTC quý 2 của các CTNY trên HOSE có thực hiện việc lập BCBP. - Thời gian: Dữ liệu nghiên cứu đƣợc lấy trong năm 2015. P ƣơng p áp ng ên ứu Nghiên cứu này áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng.
Nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp gồm các BCTC cuối niên độ đã đƣợc kiểm toán của 174 công ty, BCTC bán niên đã soát xét của 160 công ty và BCTC quý 2 của 80 công ty năm 2015 đƣợc niêm yết trên HOSE. Tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP từ đó xác định mối tƣơng quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc thông qua các tham số hồi quy đƣợc ƣớc lƣợng bằng phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất (OLS). Bố ụ đề tà Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin báo cáo bộ phận Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu (luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 4 Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Các nghiên cứu liên quan đến BCBP trên thế giới và Việt Nam hiện nay chƣa có nhiều, các hƣớng nghiên cứu thƣờng tập trung ở ba khía cạnh là đo lƣờng mức độ CBTT về BCBP, thảo luận về chuẩn mực mới so với chuẩn mực cũ trƣớc đây và đƣa ra các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố và ảnh hƣởng của chúng đến việc trình bày BCBP.
Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này đƣợc thực hiện trên BCTC năm, rất ít nghiên cứu thực hiện trên BCTC bán niên và đặc biệt trên BCTC quý 2 lại càng khan hiếm. Liên quan đến khía cạnh đo lƣờng mức độ CBTT, các nghiên cứu trƣớc đây thƣờng tiếp cận theo hai cách. Một là sử dụng lại mức độ CBTT đã đƣợc các tổ chức độc lập đo lƣờng nhƣ việc đo lƣờng mức độ CBTT đƣợc công bố hàng năm bởi Hiệp hội Quản lý và Nghiên cứu Đầu tƣ hoặc đƣợc cung cấp bởi Trung tâm nghiên cứu và phân tích tài chính quốc tế (CIFAR 1). Theo Nguyễn Hữu Cƣờng (2015), cách thứ hai là các nhà nghiên cứu sẽ tự xây dựng thang đo, trong đó hệ thống các chỉ mục đƣợc lựa chọn trên cơ sở các quy định về CBTT về BCBP có liên quan (Ahmad, 2008; Al-Shammari và cộng sự, 2008; Artiach và Clarkson, 2014; Beattie, McInnes và Fearnley, 2004; Beyer, Cohen, Lys, và Walther, 2010).
Đối với khía cạnh nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP và các nhân tố ảnh hƣởng, Alfaraih và Alanezi (2011)tập trung vào mức độ tuân thủ các yêu cầu bắt buộc của chuẩn mực kế toán quốc tế – Segment Reporting (IAS) 14 và sử dụng lý thuyết thông tin bất đối xứng để phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố bao gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động, đòn bầy tài chính, khả năng sinh lời và chất lƣợng công ty kiểm toán đến mức độ CBTT về BCBP. 1 Cả hai xếp hạng bên ngoài về CBTT bởi Hiệp Hội Quản Lý và Nghiên Cứu Đầu Tƣ và CIFAR đều không còn tiếp tục nữa.minh download by : skknchat@gmail.minh 5 Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc xem xét các chỉ tiêu bắt buộc, không xem xét đến mức độ tuân thủ các chỉ tiêu tự nguyện của các công ty này. Hessling và Jakkola (2008) nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP các công ty ở Thụy Điển, Pardal và Morais (2012) nghiên cứu các CTNY ở Tây Ban Nha, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra rằng mức độ CBTT về BCBP đƣợc lập theo lĩnh vực kinh doanh (LVKD) cao hơn hẳn so với BCBP đƣợc lập theo khu vực địa lý (KVĐL). Một số nghiên cứu lại tập trung vào xem xét mức độ CBTT về BCBP của những CTNY ở một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế cụ thể và ảnh hƣởng tích cực từ việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế - Operating Segments (IFRS 8) đến việc cải thiện chất lƣợng và số lƣợng trình bày BCBP.
Benjamin và cộng sự (2010) khảo sát thực trạng lập BCBP của các công ty lớn ở Malaysia trong năm LVKD là điện thoại viễn thông, nƣớc giải khát, truyền thông in ấn, truyền thông điện tử và tiện ích xã hội. Benjamin và cộng sự (2010) sử dụng lý thuyết chi phí độc quyền và nhấn mạnh đến một số ít các công ty ở Malaysia không cung cấp bất kỳ một BCBP nào, trái ngƣợc với tất cả các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của họ lại đều tuân thủ. Hay Hyderabad và Pradeepkumar (2011) nghiên cứu về thực trạng lập và trình bày BCBP của 45 CTNY ở Ấn Độ trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nghiên cứu này chỉ ra rằng có một khoảng cách lớn giữa các quy định đặt ra và thực tiễn CBTT về BCBP của các công ty này.Tuy nhiên cả hai nghiên cứu này đều dừng lại ở việc sử phƣơng pháp thống kê mô tả trong nghiên cứu của mình.
Các nghiên cứu trƣớc khảo sát các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP nhƣ quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, cơ chế quản trị công ty, công ty kiểm toán v. Chẳng hạn, Alfaraih và Alanezi (2011), Pardal và Morais (2012) đều cho rằng quy mô công ty càng lớn thì (luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 6 mức độ CBTT về BCBP càng cao. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Phƣơng Thúy (2010) kiểm chứng đƣợc rằng quy mô công ty không ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về BCBP.