Chương 1 đã trình bày khái quát vấn đề nghiên cứu mà nghiên cứu này muốn tìm hiểu, những mục tiêu và câu hỏi cần được giải quyết. Với mục đích làm nền tảng giải quyết những vấn đề đã nêu, chương 2 sẽ tổng hợp lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đó về những vấn đề liên quan đến đòn bẩy và mức độ đầu tư để từ đó làm căn cứ đưa ra mô hình cho đề tài. Đòn bẩy tài chính Đòn bẩy là một phạm trù đã được nghiên cứu rộng rãi. Theo Hiller và ctg (2010), đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ sử dụng nợ của một công ty.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu đòn bẩy ở các nước khác nhau bằng cách sử dụng các kỹ thuật khác nhau nên dẫn đến nhiều kết quả khác nhau. Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố định. Đòn bẩy tài chính được định nghĩa như là mức độ theo đó các chứng khoán có thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của công ty. Công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng là sẽ gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường.
Nếu sử dụng phù hợp, công ty có thể dùng các nguồn vốn có chi phí cố định, bằng cách phát hành trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi, để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí trả cho việc huy động vốn có lợi tức cố định. Phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc về cổ đông thường. Zvi và ctg (2009) cho rằng đòn bẩy tài chính là việc sử dụng vốn vay với lãi suất cố định, nó là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Sử dụng đòn bẩy cũng tăng rủi ro về lợi nhuận của chủ sở hữu.
Myers (2001) khẳng định có rất nhiều giả thuyết để giải thích các khái niệm về đòn bẩy dựa trên các điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên Myers không mô tả hay kiểm tra thực nghiệm điều kiện và hoàn cảnh như vậy trong nghiên cứu của mình. Nhiều nghiên cứu gần đây đã tập trung vào những bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến đòn bẩy trong những điều kiện khác nhau. Mặc dù nghiên cứu của họ được thực Lê Thị Hồng Tươi – MFB6 Trang 5 Tác động của đòn bẩy tài chính đến mức độ đầu tư của các doanh nghiệp trên sàn HOSE.
hiện bằng cách sử dụng mẫu có sự khác biệt về kích thước, quốc gia và loại hình của doanh nghiệp, Bancel & Mittoo (2004) và Brounen và ctg (2006) sử dụng bảng câu hỏi giống nhau để điều tra các yếu tố quyết định đến đòn bẩy ở châu Âu. Trong khi cả hai đều tìm thấy bằng chứng thực nghiệm rằng chọn thời điểm phát hành trái phiếu hay cổ phiếu dựa trên lãi suất và giá trị thị trường là yếu tố quyết định quan trọng nhất của đòn bẩy, điều đó thể hiện sự linh hoạt tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa, những phát hiện của họ khác nhau rất nhiều khi họ tìm thấy sự khác biệt của các biến số khác như tỷ lệ nợ mục tiêu và lợi ích của lá chắn thuế để xác định đòn bẩy. Mặt khác Leary và Roberts (2005) lập luận rằng quyết định đòn bẩy chủ yếu phụ thuộc vào chi phí điều chỉnh đòn bẩy thay vì các yếu tố quyết định nói trên.
Những chi phí điều chỉnh, cả định phí và biến phí giúp các nhà quản lý chủ động tái cân bằng cấu trúc vốn của họ đến một điểm tối ưu. Ngược lại với nghiên cứu nói trên, De Jong và ctg. (2008) đã cho rằng yếu tố ngành cụ thể ảnh hưởng trong việc lựa chọn đòn bẩy tài chính và tiến hành một cuộc khảo sát ở nhiều quốc gia để kiểm tra các yếu tố tác động đến đòn bẩy. Các tác giả nhận thấy những quốc gia mà các yếu tố như việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, thuế suất, phát triển thị trường trái phiếu và tỷ lệ tăng trưởng GDP có một ảnh hưởng đáng kể về cơ cấu vốn của công ty.
Hơn nữa, có một sự khác biệt trong mức độ của các yếu tố đặc thù của công ty ảnh hưởng đến quyết định đòn bẩy ở các nước khác nhau, chẳng hạn như tăng trưởng bền vững và lợi nhuận. Cuối cùng, các tác giả nói rằng các công ty sẽ có xu hướng vay thêm nợ ở các nước có môi trường pháp lý tốt hơn và điều kiện tương đối ổn định hơn để tiến hành kinh doanh. Dựa vào lý thuyết đòn bẩy tài chính và các yếu tố tác động đến đòn bẩy, kết hợp thêm các nghiên cứu trước, có thể kết luận rằng không có câu trả lời chung cho các yếu tố ảnh hưởng đòn bẩy. Điều này có thể là do sự khác biệt trong các thiết lập, kích thước mẫu, các biến được sử dụng và sự khác biệt trong các phép đo biến.
Nghiên cứu này không tập trung vào các yếu tố quyết định của đòn bẩy nhưng các nghiên cứu nói trên đã cho thấy rằng đòn bẩy và tầm quan trọng của mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư khác nhau đáng kể ở mỗi quốc gia. Lê Thị Hồng Tươi – MFB6 Trang 6 Tác động của đòn bẩy tài chính đến mức độ đầu tư của các doanh nghiệp trên sàn HOSE. Mức độ đầu tư Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), quyết định đầu tư liên quan đến: tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có cũng như mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp. Quyết định đầu tư gắn liền với phía bên trái bảng cân đối tài sản.
Cụ thể có thể liệt kê một số quyết định về đầu tư như sau: Quyết định đầu tư tài sản lưu động, bao gồm: Quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán chịu hàng hóa, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn. Quyết định đầu tư tài sản cố định, bao gồm: Quyết định mua sắm tài sản cố định mới, quyết định thay thế tài sản cố định cũ, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn. Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và đầu tư tài sản cố định, bao gồm: Quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn. Trong nghiên cứu này chỉ bàn đến đầu tư tài sản cố định.
Lý thuyết của Modigliani và Miller (1958) về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được quan hệ giữa giá trị công ty, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của công ty. Một học thuyết khác liên quan đến đầu tư là học thuyết đại diện. Học thuyết đại diện mô tả hai loại chi phí liên quan đến đầu tư: chi phí đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức. Đầu tư quá mức Một lý thuyết liên quan đến đầu tư quá mức là lý thuyết dòng tiền tự do, trong đó nói rằng các công ty có dòng tiền tự do khá lớn đầu tư vào các dự án NPV âm trong khi dòng tiền này cần thiết để tài trợ cho tất cả các dự án có NPV dương được chiết khấu theo các chi phí liên quan của vốn.
Hiện tượng này được gọi là đầu tư quá mức (Jensen, 1986). Jensen cho rằng hiệu quả quản lý làm cho các nhà quản lý có động lực để đầu tư quá mức dẫn đến các công ty của họ tăng trưởng vượt quá quy mô tối ưu. Vì không có nghĩa vụ phải trả cổ tức cho các cổ đông, các nhà quản lý giữ nguồn tài nguyên dưới sự kiểm soát Lê Thị Hồng Tươi – MFB6 Trang 7 Tác động của đòn bẩy tài chính đến mức độ đầu tư của các doanh nghiệp trên sàn HOSE. của mình dẫn đến hoạt động lãng phí.
Điều này gây ra một cuộc xung đột giữa cổ đông và người điều hành, bởi vì mục đích của các cổ đông là tối đa hóa giá trị công ty (Hillier và ctg, 2010). Jensen cho rằng đầu tư quá mức có nhiều khả năng xảy ra trong tình huống khi công ty có cơ hội tăng trưởng rất thấp, bởi vì các nhà quản lý muốn tăng quy mô doanh nghiệp mặc dù thiếu các dự án NPV dương. Đầu tư quá mức cũng có thể bị gây ra khi các doanh nghiệp vay nợ. Nợ có thể được sử dụng để tăng mức độ đầu tư, dẫn đến thanh khoản tiền mặt được tạo ra từ đầu tư được dùng cho các hoạt động gây lãng phí.
Nhưng vay nợ để đầu tư quá mức có giới hạn của nó. Jensen (1986) và Stulz (1990) cho rằng các công ty đầu tư quá mức có cơ hội tăng trưởng thấp sẽ có lợi thế trong việc sử dụng nợ. Nợ được sử dụng như một cơ chế bảo vệ không để doanh nghiệp đầu tư quá mức. Nợ làm giảm dòng tiền tự do và các hoạt động quản lý lãng phí vì các nhà quản lý có nghĩa vụ trả lãi và gốc.
Khi công ty chuyển sang vay nợ, người quản lý sẽ có cơ hội để định giá công ty và việc quản lý của mình. Vấn đề đại diện của đầu tư quá mức cho thấy một mối quan hệ đồng biến giữa đòn bẩy và đầu tư (dự án giả định là quỹ từ bên ngoài) vì các nhà quản lý làm tăng nợ để tài trợ cho các dự án của họ. Nợ có tác dụng như một cơ chế bảo vệ không để đầu tư quá mức chỉ ra một mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy và đầu tư, do nghĩa vụ trả lãi và khả năng vỡ nợ mà phải có hạn mức vay nợ đầu tư. Đầu tư dưới mức Lý thuyết đầu tư dưới mức chỉ ra rằng các doanh nghiệp sử dụng vốn vay có xu hướng giảm đầu tư do chi phí vốn bên ngoài và do nguy cơ phá sản (Myers, 1977).
Khi công ty có các cơ hội tăng trưởng cao và nhà quản trị muốn tài trợ cho các khoản nợ, chủ nợ nhận thấy các công ty chuyển sang sử dụng nợ như một tín hiệu cho thấy rằng các công ty đó có dòng tiền và khả năng sinh lời thấp trong tương lai (Stulz, 1990). Do đó các chủ nợ tăng phần bù rủi ro của nợ, những cơ hội đầu tư này có thể đóng góp giá trị ròng dương với giá trị thị trường của công ty. Hiện tượng này được gọi là đầu tư dưới mức. Nhà quản lý có động cơ để đầu tư dưới mức, khi họ chịu chi phí của nợ và trái chủ / chủ nợ sẽ nhận được tất cả những lợi ích từ việc đầu tư.