Chương 1 giới thiệu tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và đòn bẩy doanh nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam. Chương 2 trình bày cách thu thập số liệu, đo lường các biến, mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng. Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm của mẫu dữ liệu thu thập được. Chương 4 trình bày tóm lược lại các kết quả nghiên cứu.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt nguồn từ bài viết của Modilligani và Miller (1958) và sau này được gọi là học thuyết MM. Hai ông xem xét việc lựa chọn cấu trúc vốn trong điều kiện thị trường hoàn hảo với các giả định : không có chi phí giao dịch khi mua và bán chứng khoán; thị trường có đủ số người mua, người bán vì vậy không có nhà đầu tư riêng lẽ nào có thể tác động đến giá chứng khoán; thông tin có sẵn cho nhà đầu tư và không phải mất chi phí; tất cả các nhà đầu tư có thể cho vay và đi vay với cùng lãi suất; không có thuế. Theo lý thuyết MM, việc lựa chọn nguồn tài trợ hoặc vốn chủ sở hữu hoặc nợ không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Việc sử dụng nợ mang lại rủi ro tài chính tăng thêm cho nên chủ sở hữu kỳ vọng sẽ nhận được một tỷ suất sinh lợi cao hơn để bù đắp cho rủi ro sử dụng nợ. Vì vậy lý thuyết của MM kết luận rằng giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn, tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ. Modilligani và Miller (1963) đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả định về thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nên một phần thu nhập của doanh nghiệp có sự dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình Vg = Vu + T.
Như vậy, theo lý thuyết MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp trong môi trường có thuế. 6 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, những nhà quản trị tin rằng họ sẽ tìm được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Một tỷ lệ đòn bẩy tối ưu là sự cân bằng giữa lợi ích của tấm chắn thuế từ lãi vay và chi phí nợ vay. Chi phí tiềm tàng của nợ vay bao gồm chi phí phá sản và chi phí đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ.
Lý thuyết đánh đổi cũng giúp giải thích được tỷ lệ khác nhau giữa các ngành. Những doanh nghiệp có tài sản hữu hình và khả năng sinh lợi cao thì nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Ngược lại công ty có tài sản vô hình chủ yếu và khả năng sinh lợi thấp nên lựa chọn cấu trúc vốn với tỷ lệ nợ thấp. Những doanh nghiệp có tài sản hữu hình và khả năng sinh lợi cao thì chi phí đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ thấp và ngược lại.
Hạn chế của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là không thể giải thích được thực tế tại sao một số doanh nghiệp rất thành công trong ngành lại có rất ít nợ và không sử dụng tấm chắn thuế mặc dù thu nhập hoạt động rất cao. Chính hạn chế này là tiền đề để một lý thuyết cấu trúc vốn khác ra đời : lý thuyết trật tư phân hạng. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng chủ yếu dựa trên mối quan tâm về việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp. Bởi vì những nhà quản lý có nhiều thông tin hơn những nhà đầu tư bên ngoài, do đó những nhà đầu tư mới bên ngoài sẽ yêu cầu một mức chiết khấu cao hơn khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán, điều này làm cho các nguồn tài trợ từ bên ngoài đắt đỏ hơn.
Chính vì lý do đó , khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn , họ thường ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ (lợi nhuận giữ lại), tiếp theo là chứng khoán nợ, cuối cùng mới đến việc phát hành cổ phần thường mới. 7 Những nền tảng đầu tiên cho lý thuyết trật tự phân hạng là từ những nghiên cứu của Donaldson (1961). Nghiên cứu này đưa ra những bằng chứng cho thấy nhà quản trị ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ rồi mới đến nguồn tài trợ từ bên ngoài (vay nợ và phát hành cổ phần mới). Lý thuyết đại diện Khi xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế cũng phát triển cao, qui mô và mức độ phức tạp của các doanh nghiệp khiến cho việc điều hành trực tiếp của các chủ doanh nghiệp trở nên khó khăn và không hiệu quả.
Việc điều hành những doanh nghiệp phức tạp đòi hỏi những kỹ năng và phẩm chất mà không phải chủ doanh nghiệp nào cũng hội đủ. Các chủ doanh nghiệp sẽ tìm kiếm những nhà quản lý có đủ khả năng bảo quản và phát triển khối tài sản của họ. Thực tế đó dẫn đến sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát trong doanh nghiệp. Sự tách biệt này dẫn đến mâu thuẫn giữa người đại diện quản lý và chủ doanh nghiệp.
Trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và người quản lý doanh nghiệp, cả hai đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình, tuy nhiên mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mỗi bên là khác nhau. Nhà đầu tư mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc gia tăng giá trị của doanh nghiệp, còn lợi ích của nhà quản lý là khoản thu nhập nhận được từ tiền lương, thưởng và các phúc lợi khác từ doanh nghiệp. Do nhà quản lý là người trực tiếp điều hành các hoạt động doanh nghiệp nên họ có thể thực hiện những hành vi nhằm tối đa hóa lợi ích của họ nhưng lại gây tổn thất cho nhà đầu tư. Những tổn thất này được gọi là chi phí đại diện.
Mặc dù ý thức được vấn đề này nhưng nhà đầu tư không dễ dàng để kiểm soát được, bởi thực tế tồn tại thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và nhà quản lý (Scott 2006). Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và cấu trúc sở hữu doanh nghiệp. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và cấu trúc sở hữu doanh nghiệp trên thế giới. Sở hữu của cổ đông kiểm soát và quyết định tài chính doanh ngiệp.
Jensen và Meckling (1976), Fama và Jensen (1986), Shleifer và Vishny (1986) và nhiều nghiên cứu khác lập luận rằng cấu trúc sở hữu cổ phần tác động quan trọng đến việc điều hành và giá trị doanh nghiệp. Các lý thuyết nền tảng đều giả định rằng các nhà đầu tư luôn muốn đa dạng hóa đầu tư của mình để tối thiểu hóa rủi ro của họ. Các cổ đông của doanh nghiệp ngoài phần vốn góp vào doanh nghiệp họ có thể đa dạng hóa danh mục bởi những khoản đầu tư khác. Các nhà quản trị doanh nghiệp không thể tối thiểu hóa rủi ro của họ khi mà phần lớn quyền lợi của họ được gắn liền với khoản đầu tư về nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
Không giống như nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực không thể đa dạng hóa (Amihud và Lev, 1981). Sự mất mát do không thể đa dạng hóa nguồn nhân lực tạo ra tổn thất lớn đối với những nhà quản trị, những người có lợi ích gắn liền với doanh nghiệp. Một trong những cách mà nhà quản trị sử dụng để giảm thiểu rủi ro của họ là giảm nợ vay (Friend và Lang, 1988). Điều này được giải thích bởi việc sử dụng nợ làm gia tăng rủi ro phá sản của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp có nguy cơ phá sản hoặc lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp sẽ cắt giảm nhân sự hoặc cắt giảm các khoản phúc lợi dành cho các nhà quản trị. Do vậy các nhà quản trị sẽ ưu tiên giảm nợ vay của doanh nghiệp (lý thuyết tư lợi của nhà quản trị - Amihud và Lev, 1981). Jensen và Meckling (1976) lập luận rằng quyền sở hữu của cổ đông điều hành có thể làm giảm thiểu việc các nhà quản trị thu lợi cho cho cá nhân làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Việc sở hữu cổ phần của các cổ đông điều hành có thể phần nào làm giảm hành vi tư lợi của nhà quản trị và tạo nên sự cân bằng lợi ích 9 của cổ đông và nhà quản trị doanh nghiệp hay còn gọi là “hiện tượng sở thích hội tụ”.
Berger và các cộng sự (1997) xem xét dữ liệu chéo của 434 doanh nghiệp giai đoạn 1984-1991 đã cho thấy khi nhà điều hành nắm giữ cổ phần ở một tỷ lệ đáng kể, thì việc gia tăng tỷ lệ sở hữu của ban điều hành dẫn đến hiện tượng cố thủ trong quản trị. Khi ban điều hành nắm giữ cổ phần ở một tỷ lệ cao sẽ tránh xa nợ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy một mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ lệ sỡ hữu của ban điều hành và đòn bẩy tài chính như nghiên cứu thực nghiệm của Agrawal và Mandelker (1987), Timothy và công sự (1999), Hubert de La Buslerie và Imen Latrous (2012). Agrawal và Mandelker (1987) nghiên cứu hai mối quan hệ : (1) mối quan hệ giữa số lượng cổ phiếu phổ thông và quyền chọn được nắm giữ bởi các nhà quản lý và các quyết định đầu tư của doanh nghiệp, (2) mối quan hệ giữa số lượng cổ phiếu phổ thông và quyền chọn được nắm giữ bởi các nhà quản lý và các quyết định tài chính doanh nghiệp, với bộ dữ liệu được lấy từ hệ thống CRSP giai đoạn 1974-1982.
Trong bài nghiên cứu Agrawal và Mandelker sử dụng ba cách đo lường biến sở hữu của các nhà quản trị : tỷ lệ sở hữu cổ phiếu phổ thông và quyền chọn của nhà điều hành cao nhất; tỷ lệ sở hữu cổ phiếu phổ thông và quyền chọn của hai nhà điều hành cao nhất và tỷ lệ sở hữu cổ phiếu phổ thông và quyền chọn của của tất cả các nhà điều hành. Nghiên cứu Agrawal và Mandelker đã tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho giả thiết về mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý với sự thay đổi trong các quyết định tài chính của doanh nghiệp.