Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương này trình bày lý do để chọn đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, những đóng góp của đề tài mang lại, ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về việc làm và ảnh hưởng của đại dịch covid – 19 đến việc làm của sinh viên Trong chương này, trình bày những khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài, sơ lược về đại dịch covid – 19 ảnh hưởng đến việc làm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở ngoài nước và tại Việt Nam. Dựa trên nghiên cứu đã nêu, đề xuất mô hình và giả thuyết cho đề tài nghiên cứu.
Xây dựng thang đo dựa trên mô hình và nghiên cứu có sẵn. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Trình bày những phương pháp được áp dụng trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả. Chương 4: Phân tích những nhân tố ảnh hưởng của đại dịch covid – 19 đến việc làm của sinh viên trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh Tring chương này, phân tích những yếu tố do ảnh hưởng của Đại dịch covid – 19 đến việc làm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu và kiến nghị một số giải pháp cho đề tài.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN 2. Một số khái niệm có liên quan 2. Khái niệm việc làm Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật”. Theo điều 33 của Bộ luật lao động Việt Nam: “Khái niệm việc làm là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động.
Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với mọi người”. Theo đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thu nhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng”. “Việc làm” là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế - xã hội và nhân khẩu. Khái niệm “việc làm” và khái niệm “lao động” liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau.
Có thể hiểu, Việc làm là những dạng hoạt động có ích, không bị luật pháp nghiêm cấm nhằm đem lại thu nhập cho bản thân, gia đình. Theo giáo trình: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS. Nguyễn Hữu Dũng- Trần Hữu Trung): “Khi vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh của nước ta thì khái niệm về việc làm có sự thay đổi và được nhiều người đồng tình đó là: Người có việc làm là người làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp một phần cho xã hội”. Theo Nguyễn Quang Thiều (1996): “việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là các điều kiện cần thiết về sử dụng sức lao động đó”.
Theo quan niệm này, thì việc làm chính là sự phù hợp của các điều kiện vật chất, kỹ thuật,… phù hợp với sức lao động của con người trong quá trình thực hiện hoạt động lao động, để sử dụng sức lao động. Như vậy cách hiểu này tương đối phù hợp với sự phát triển của công nghệ, một yếu tố đóng góp chủ yếu vào tư liệu sản xuất, sức lao động của người lao động phải bắt buộc phù hợp với trình độ của công nghệ được áp dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Đương nhiên, nếu người lao động không làm chủ được công nghệ thì sẽ bị đào thải khỏi dây chuyền sản xuất, kinh doanh. 5 Theo quan niệm của thế giới về việc làm thì: người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.
Có thể phân loại việc làm thành hai loại, dựa trên các tiêu chí chủ yếu như, mức độ sử dụng thời gian lao động, theo thời gian làm việc của người lao động. Theo mức độ sử dụng lao động: Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác. Việc làm phụ là những công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Việc làm hợp lý là những công việc tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm phù hợp với năng lực sở trường của người lao động.
Việc làm hiệu quả là việc làm với năng suất chất lượng cao. Đối với tầm vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao động tức là tiết kiệm chi phí lao động, tăng năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử dụng hết nguồn nhân lực. Theo thời gian làm việc của người lao động: Việc làm tạm thời là việc làm được tạo ra trong thời gian người lao động đang tìm một công việc thích hợp với chuyên môn và sở trường của họ. Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân.
Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập. Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ luật định( độ dài thời gian lao động hiện nay ở Việt Nam là 8 giờ/ ngày) và không có nhu cầu làm thêm. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO: “Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống muốn tìm thêm việc làm bổ sung.
Thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng: thiếu việc làm hữu hình và thiếu việc làm vô hình”. Khái niệm sinh viên Căn cứ tại Điều 2 Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư 10/2016/TT-BGDĐT quy định về khái niệm sinh viên như sau: “Điều 2. Sinh viên được quy định tại quy chế này là người đang học chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học. Sinh viên là trung tâm của các hoạt động giáo dục và đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, được bảo đảm Điều kiện thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền trong quá trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục và đào tạo.” Sinh viên: là người có quyền chọn trường, chọn ngành, chọn giảng viên và cũng là người trực tiếp sử dụng các dịch vụ mà nhà trường cung cấp cho họ.
Sinh viên đồng thời là sản phẩm của dịch vụ đào tạo đại học. Họ vào trường với tư cách là một nguyên liệu, trải qua quá trình đào tạo rèn luyện phức tạp của Nhà trường, họ tích lũy kiến thức, kỹ năng và trở thành thành phẩm sau khi kết thúc quá trình đào tạo. Trong quá trình được đào tạo, sinh viên phải thực hiện các công việc như làm bài tập, nghiên cứu, thuyết trình, kiểm tra và thi cử… dưới sự kiểm tra và đánh giá của giảng viên. Như vậy, sinh viên đã tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ với tư cách của một “nhân viên” và phải chịu trách nhiệm một phần về chất lượng đào tạo.
Sơ việc về đại dịch covid – 19 ảnh hưởng đến việc làm của sinh viên và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh Triển vọng việc làm của sinh viên vừa mới ra trường trong giai đoạn Đại dịch Covid -19 diễn ra đã và đang là thách thức lớn đối với nhiều sinh viên. Ra trường đúng vào giai đoạn khó khăn cùng với đó là nhà nước áp dụng chính sách giãn cách xã hội, các cửa khẩu bị đóng làm cho hàng hóa không được xuất khẩu sang các nước. Làm cho các công ty sản xuất phải giảm hoặc cho ngừng hoạt động. Chính vì vậy, mà dường như các công ty đều cắt giảm nguồn nhân sự và có rất ít công ty tuyển dụng nhân sự trong giai đoạn khó khăn này.
Với tình hình khó khăn này thì nhiều sinh viên vừa tốt nghiệp họ chọn những công việc trái ngành, hay làm những công việc tạm thời. Theo Adecco (công ty cung cấp nguồn nhân lực và nhân sự tạm thời lớn thứ 2 thế giới): “Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hiện có gần 39% doanh nghiệp giảm nhu cầu tuyển dụng sinh viên mới ra trường. Họ còn chỉ rằng, hiện có hơn 59% các tân cử nhân nhân tin 7 rằng hiện nay có ít cơ hội việc làm hơn trước, 41.8% lo ngại về việc thiếu kiến thức thực tế và 40% nói rằng họ có ít cơ hội tiếp cận nhà tuyển dụng hơn; 43% tân cử nhân xem tình huống này là cơ hội để nâng cao kỹ năng và kiến thức, 33.6% xem xét lại mục tiêu nghề nghiệp, và một tỷ lệ tương tự sử dụng thời gian này để cân nhắc sự nghiệp trong lĩnh vực khác…”. Các công trình nghiên cứu có liên quan 2.
Các nghiên cứu có liên quan trên thế giới Wise (1975) nhấn mạnh rằng kết quả học tập của sinh viên có ảnh hưởng tích cực tới thu nhập của sinh viên, là một lợi thế khi tuyển dụng. Đa số nhà tuyển dụng sử dụng điểm trung bình như là một tiêu chí để đánh giá ứng viên khi phỏng vấn (Rumberger, 1993). Chia và Miller (2008) nghiên cứu tác động của kết quả học tập đến tình trạng việc làm của sinh viên Trường đại học Melbourne (Úc) đã kết luận rằng sinh viên có điểm trung bình cao thường nắm bắt công việc tốt hơn và nhận được lương cao hơn sau khi tốt nghiệp.