MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vốn xã hội là một thuật ngữ trong một hai thập niên gần đây được đề cập nhiều trong giới khoa học xã hội. Vốn xã hội cũng như tài nguyên thiên nhiên (natural capital – vốn tự nhiên) hay máy móc thiết bị sản xuất (manufactured capital – vốn sản xuất) là một trong số những nguồn vốn để thúc đẩy và phát triển nền kinh tế. Vốn xã hội là một thuật ngữ được sử dụng từ đầu thế kỷ XX nhưng nó chỉ được sử dụng một cách rộng rãi sau công trình của Coleman, Bourdieu và Putnam vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990.
Thuật ngữ này liên quan đến mạng lưới xã hội các chuẩn mực và sự tán thành hay thừa nhận khiến cho hành động hợp tác giữa các cá nhân và các cộng đồng được dễ dàng. Từ năm 1995, đã có một sự bùng nổ trong các chủ đề nghiên cứu về vốn xã hội với phạm vi rộng ở các ngành khoa học hàn lâm. Điều này có thể thấy rằng các nhà hoạch định chính sách, các thể chế quốc gia và quốc tế đã thể hiện sự quan tâm ngày càng tăng về nhận thức và ảnh hưởng của vốn xã hội. Thị trường lao động Việt Nam đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho các nhà quản lý, hoạch định chính sáchđể giải quyết tình trạng thất nghiệp, chất lượng nguồn lao động, mất cân đối cư cấu lực lượng lao động,… Trong đó, thực tế vấn đề gây nhức nhối nhiều năm qua được dư luận quan tâm là tìm kiếm việc làm đối với sinh viên mới ra trường.Qua những kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, bên cạnh sự thống nhất rằng tìm kiếm việc làm thông qua vốn xã hội là một kênh tìm kiếm hiệu quả, vẫn còn không ít học giả tranh luận xoay quanh những tác động, ảnh hưởng cụ thể của kênh tìm kiếm này.
Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả cho rằng, muốn phát huy được tầm quan trọng của vốn xã hội trong thị trường lao động của Việt Nam hiện nay, cần phải nghiên cứu một cách cụ thể và sâu rộng “Nghiên cứu ảnh hưởngcủa vốn xã hội đến việc làm của sinh viên tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân”. Bên cạnh đó, những nghiên cứu trong đề tài này sẽ góp phần giải quyết yêu cầu cấp thiết của thực tiễn của thị trường lao động, đặc biệt là đối với sinh viên tốt nghiệp đại học – lực lượng lao động trẻ có tri thức cao và được kỳ vọng nhất trong việc đóng góp vào sự ổn định, phát triển nền kinh tế nói riêng và tương lai đất nước nói chung. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến vốn xã hội 2. Về khái niệm, nội hàm về vốn xã hội Vốn xã hội (social capital) được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác như vốn kinh tế, vốn con người, vốn văn hóa.
Cho đến nay, khái niệm về vốn xã hội vẫn còn khiến không ít người cảm thấy lạ lẫm, bởi lẽ đây không chỉ là cụm từ được ghép từ những thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau (“vốn” thuộc lĩnh vực kinh tế và “xã hội” hàm ý những giá trị về mặt văn hóa rất khó định lượng) mà còn bởi bản thân thuật ngữ này được dùng để chỉ một thực thể bao quát đến mức “mơ hồ và khó nắm bắt”. Tuy nhiên, các khái niệm về vốn xã hội đã được nhiều học giả kinh điển trên thế giới đề cập từ rất sớm trong các công trình nghiên cứu của mình. Lyda Judson Hanifan là người đầu tiên dùng khái niệm “vốn xã hội” để chỉ tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau trong đời sống xã hội vào năm 1916. Trong cuốn sách“Cái chết và cuộc sống của những thành phố lớn nước Mỹ”, ông cho rằng “vốn xã hội không phải tài sản đất đai, tài sản cá nhân hay tiền mặt mà là những giá trị hiện thực trong đời sống có tác động lên hầu hết cuộc sống hằng ngày của con người như sự thiện ý, tình đoàn kết, sự đồng cảm, trao đổi xã hội trong một nhóm người hoặc gia đình - những đơn vị xã hội chính của cộng đồng nông thôn”.
Sau gần một nửa thế kỷ bị lãng quên, vào năm 1960, khái niệm vốn xã hội được nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Mỹ, Jane Jacobs, đề cập lại trong nghiên cứu của mình theo quan điểm “vốn xã hội là một hệ thống phức tạp các mối quan hệ con người được xây dựng theo thời gian, có chức năng hỗ trợ lẫn nhau trong thời gian cần thiết đảm bảo sự an toàn của các đường phố và nuôi dưỡng một ý thức trách nhiệm công dân”. Đến những năm 1980, khái niệm vốn xã hội đã được đưa vào từ điển khoa học xã hội của Fukuyama, song trước đó từ đầu những năm 1970, Bourdieu đã dùng khái niệm này trong các nghiên cứu của ông. Tuy nhiên, khái niệm vốn xã hội chỉ thực sự trở thành khái niệm khoa học quan trọng trong tác phẩm “Các hình thức của vốn” của chính Bourdieu năm 1986. Ông viết: “Vốn xã hội là một thuộc tính của các cá nhân trong bối cảnh xã hội.
Bất cứ ai cũng có thể thu thập một số vốn xã hội nếu người đó nỗ lực và chú tâm làm việc ấy, và hơn nữa bất cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi ích kinh tế thông thường. Song khả năng thực hiện điều ấy tùy thuộc 3 vào những trách nhiệm xã hội, móc nối và mạng lưới xã hội”.Bourdieu cũng ủng hộ quan điểm của Hanifan khi cho rằng vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết đã có từ lâu và đã được thể chế hóa phần nào. Khi tìm hiểu về vốn xã hội, không thể không nhắc đến nhà xã hội học người Mỹ James Coleman. Năm 1988, ông đã có bài viết thu hút nhiều sự chú ý về vốn xã hội.
Theo đó, Coleman phân tích sự quan trọng của “vốn xã hội trong sự hình thành vốn con người”. Ngay tựa bài đã cho thấy quan điểm của Coleman và Bourdieu hoàn toàn đối lập. Coleman định nghĩa vốn xã hội là “các nguồn lực cấu trúc xã hội mà cá nhân có thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản”. Ông khẳng định vốn xã hội là “sản phẩm phái sinh” của các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau.
Người ta thiết lập và duy trì những mối quan hệ như thế để tìm kiếm lợi ích. Năm 1995, nhà chính trị học người Mỹ Robert Putnam xuất bản một bài nghiên cứu ngắn gọn, có nhiều phát hiện mới lạ và quan trọng. Trong đó, Putnam đã dùng cụm từ “vốn xã hội” giống như Coleman và gắn những ý niệm về vốn xã hội của mình với vấn đề “đạo đức công dân”. Putnam quan tâm đến mối quan hệ gắn kết giữa các công dân.Putnam nhấn mạnh vốn xã hội mang lại sự hỗ trợ lẫn nhau, sự hợp tác và lòng tin.
Không chỉ đưa ra quan điểm về vốn xã hội, ông còn đề xuất một số chỉ báo để đo lường vốn xã hội. Đi xa hơn Coleman, Fukuyama(2001) cho rằng vốn con người và vốn xã hội có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Theo ông định nghĩa: “vốn xã hội là các chuẩn mực, giá trị được chia sẻ để thúc đẩy sự hợp tác xã hội, điều này được chứng minh bằng các mối quan hệ xã hội thực sự”, nhấn mạnh vào chuẩn mực xã hội. Năm 1999, Ngân hàng Thế giới, một tổ chức quốc tế đã rất tích cực nghiên cứu đưa ra một định nghĩa về vốn xã hội bao hàm cả các thể chế xã hội: “Vốn xã hội liên quan đến những thể chế, những mối quan hệ, những chuẩn mực làm định hình chất lượng và số lượng của các tương tác xã hội trong xã hội.
Có nhiều bằng chứng cho thấy tính gắn kết xã hội là rất quan trọng đối với các xã hội có thể trở nên phồn thịnh về kinh tế và phát triển một cách bền vững. Vốn xã hội không chỉ là tổng số đơn thuần các thể chế tạo nên một xã hội – nó còn là chất keo dính gắn kết chúng lại với nhau”. Khi bàn về vốn xã hội nhiều tác giả cũng đã sử dụng khái niệm nguồn lực để 4 định nghĩa vốn xã hội. Nếu Bourdieu quan niệm vốn xã hội là nguồn lực trên mạng lưới được thừa nhận hoặc quen biết, Lin (2001) định nghĩa vốn xã hội là nguồn lực nằm trong mạng lưới xã hội.
Trong khi đó, Portes (1998) lại dùng khái niệm nguồn lực để biểu thị vốn xã hội và khẳng định cá nhân sử dụng vốn xã hội có thể thu được lợi ích. Năm 2005, cuốn sách Vốn xã hội của David Halpern được xuất bản và trở thành một trong những tác phẩm có đóng góp quan trọng trong nghiên cứu vốn xã hội.Halpern đã tổng quan lại các luận điểm riêng lẻ về vốn xã hội và một hệ thống lý thuyết thống nhất. Theo đó, Halpern nhận định rằng vốn xã hội “gồm những mạng lưới xã hội, các chuẩn mực, các giá trị và sự kỳ vọng được thành viên trong nhóm chia sẻ, và sự thưởng phạt duy trì các chuẩn mực và mạng lưới”. Ngoài những quan điểm đã nêu trên vẫn còn một số định nghĩa tiêu biểu về vốn xã hội của các tác giả khác.Baker (1990) nhận định vốn xã hội: “Một nguồn tài nguyên mà các cá nhân nằm trong các cấu trúc xã hội cụ thể và sau đó sử dụng nó để theo đuổi lợi ích của mình, nó được tạo ra bởi những thay đổi trong mối quan hệ giữa các cá nhân”.
Pierre Bourdieu và Loic Wacquant (1992) đưa ra vốn xã hội là “Tổng hợp các nguồn lực (thực tế hoặc ảo) tích lũy trong một cá nhân hoặc nhóm nhờ vào việc sở hữu một mạng lưới bền vững các mối quan hệ quen biết và công nhận lẫn nhau”. Micheal Woolcock (1998) khẳng định “Thông tin, sự tin tưởng, quy tắc quan hệ có đi có lại gắn liền với mạng xã hội của một cá nhân”. Theo nhận định của Cohen và Prusak (2001) định nghĩa: “Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau: Sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được”. Bên cạnh những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra những nhận định riêng của mình.