Chương 1: Một số lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh lữ hành. Chương 2: Đánh giá ảnh hưởng của dịch Covid 19 đến kết quả và hiệu quả kinh doanh dịch vụ lữ hành của Công ty TN HH Du Lịch Quảng N am. Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công ty TN HH Du Lịch Quảng N am trong bối cảnh bị tác động bởi dịch Covid- 19. SVTH: Đỗ Thị Quyên 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS: Bùi Đức Tính PHẦ II – ỘI DU G CHƯƠ G 1: MỘT SỐ LÝ LUẬ CƠ BẢ VỀ HIỆU QUẢ KI H DOA H LỮ HÀ H 1. Một số khái niệm về kinh doanh lữ hành 1. Kinh doanh lữ hành Theo TS.N guyễn Văn Mạnh và GS. N guyễn Văn Đính trong Quản trị kinh doanh lữ hành, có nhiều khái niệm về kinh doanh lữ hành, và có 2 cách tiếp cận để đưa ra khái niệm như sau: Thứ nhất, tiếp cận theo nghĩa rộng, kinh doanh lữ hành được hiểu là doanh nghiệp đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc trong quá trình tạo ra và chuyển giao sản phN m từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích hưởng hoa hồng hoặc lợi nhuận.
Kinh doanh lữ hành có thể là kinh doanh một hoặc nhiều hơn một, hoặc tất cả các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn hầu hết các nhu cầu thiết yếu, đặc trưng và các nhu cầu khác của khách du lịch. Thứ hai, tiếp cận lữ hành ở phạm vi hẹp, kinh doanh lữ hành được phân biệt với các hoạt động kinh doanh khác như khách sạn, vui chơi giải trí, thì giới hạn của hoạt động kinh doanh lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch. Vì vậy các công ty lữ hành thường rất chú trọng tới việc kinh doanh chương trình du lịch. Theo Luật Du lịch Việt *am 2017:“Kinh doanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch”.
Vai trò của các doanh nghiệp lữ hành Theo TS.N guyễn Văn Mạnh và GS. N guyễn Văn Đính trong Quản trị kinh doanh lữ hành, kinh doanh lữ hành là một bộ phận quan trọng của ngành du lịch, là vị trí trung gian chắp nối để cung và cầu du lịch gặp nhau, thúc đN y sự phát triển du lịch. Vai trò của kinh doanh lữ hành là phân phối sản phN m của ngành du lịch và các sản phN m khách của nền kinh tế quốc dân. Vai trò này được thể hiện qua việc thực hiện các chức năng của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành: thông tin, tổ chức và thực hiện.
SVTH: Đỗ Thị Quyên 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS: Bùi Đức Tính Chức năng thông tin: Cung cấp thông tin cho du khách, nhà kinh doanh du lịch, điểm đến du lịch như thông tin về giá trị tài nguyên, thời tiết, thể chế chính trị, tôn giáo, luật pháp, tiền tệ, giá cả, thứ hạng. chủng loại dịch vụ của nhà hàng, khách sạn. Chức năng tổ chức: N ghĩa là doanh nghiệp phải thực hiện các công việc tổ chức nghiên cứu thị trường, tổ chức sản xuất và tổ chức tiêu dùng.
Chức năng thực hiện: đây là khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh lữ hành. Bao gồm thực hiện vận chuyển khách, hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, giám sát dịch vụ của các nhà cung cấp khác trong chương trình. Một cách rõ ràng hơn, vai trò của doanh nghiệp lữ hành được thể hiện qua các hoạt động chính yếu sau: Tổ chức các hoạt động trung gian: bán và tiêu thụ sản phN m của nhà cung cấp dịch vụ du lịch. Hệ thống các điểm bán, các đại lí du lịch tạo thành mạng lưới phân phối sản phN m của các nhà cung cấp du lịch.
Trên cơ sở đó, rút ngắn hoặc xóa bỏ khoảng cách giữa khách du lịch với các cơ sở kinh doanh du lịch. Tổ chức các chương trình du lịch trọn gói. Các chương trình này nhằm liên kết các sản phN m du lịch như vận chuyển, lưu trú, tham quan, vui chơi giải trí.thành sản phN m thống nhất, hoàn hảo, đáp ứng được nhu cầu của du khách. Các chương trình du lịch trọn gói sẽ xóa bỏ tất cả những khó khăn lo ngại của khách du lịch.
tạo cho họ sự an tâm, tin tưởng vào thành công của chuyến du lịch. Các công ty lữ hành lớn, với hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phong phú từ các công ty hàng không đến các chuỗi khách sạn, hệ thống các ngân hàng. đảm bảo phục vụ tất cả các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng. N hững tập đoàn lữ hành, du lịch mang tính chất toàn cầu sẽ góp phần quyết định xu hướng tiêu dùng trên thị trường hiện tại và trong tương lai.
Phân loại kinh doanh lữ hành Theo TS.N guyễn Văn Mạnh và GS. N guyễn Văn Đính trong Quản trị kinh doanh lữ hành, kinh doanh lữ hành được phân loại theo tính chất hoạt động, phương thức và phạm vi hoạt động, theo quy định của Luật du lịch Việt N am. Căn cứ tính chất của hoạt động để tạo ra sản phum Kinh doanh đại lý lữ hành SVTH: Đỗ Thị Quyên 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS: Bùi Đức Tính Hoạt động chủ yếu là làm dịch vụ trung gian tiêu thụ và bán sản phN m một cách độc lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất du lịch để hưởng hoa hồng theo mức phần trăm của giá bán, không làm gia tăng giá trị sản phN m trong quá trình chuyển giao từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch.
Loại kinh doanh này làm nhiệm vụ như là chuyên gia cho thuê không phải chịu rủi ro. Các yếu tố quan trọng bậc nhất đối với hoạt động kinh doanh này là vị trí, hệ thống đăng ký và kỹ năng chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng bán hàng của đội ngũ nhân viên. Các doanh nghiệp thuần túy thực hiện loại hình này được gọi là các đại lý lữ hành bán lẻ. Kinh doanh chương trình du lịch Hoạt động theo phương thức bán buôn, thực hiện sản xuất làm gia tăng giá trị của các sản phN m đơn lẻ của các nhà cung cấp để bán cho khách, với hoạt động kinh doanh này chủ thể của nó phải gánh chịu rủi ro, san sẻ rủi ro trong quan hệ với các nhà cung cấp khác.
Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh chương trình du lịch được gọi là các công ty du lịch lữ hành. Cơ sở của hoạt động này là liên kết các sản phN m mang tính đơn lẻ của các nhà cung cấp độc lập thành sản phN m mang tính trọn vẹn bán với giá gộp cho khách, đồng thời làm gia tăng giá trị sử dụng của sản phN m cho người tiêu dùng thông qua sức lao động của các chuyên gia marketing, điều hành và hướng dẫn. Kinh doanh lữ hành tổng hợp Bao gồm tất cả các dịch vụ du lịch có nghĩa là đồng thời vừa sản xuất trực tiếp từng loại dịch vụ, vừa liên kết các dịch vụ thành sản phN m mang tính nguyên chiếc, vừa thực hiện bán buôn và bán lẻ, vừa thực hiện chương trình du lịch đã bán. Đây là kết quả trong quá trình phát triển và thực hiện liên kết dọc, liên kết ngang của các chủ thể kinh doanh du lịch.
Căn cứ vào phương thức và phạm vi hoạt động Dựa trên phương thức và phạm vi hoạt động. kinh doanh lữ hành được chia thành 3 hình thức. Kinh doanh lữ hành gửi khách SVTH: Đỗ Thị Quyên 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS: Bùi Đức Tính Bao gồm cả gửi khách quốc tế, khách nội địa, là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là tổ chức thu hút khách du lịch một cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch.
Loại kinh doanh lữ hành này thích hợp với những nơi có nhu cầu du lịch lớn. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành gửi khách được gọi là công ty gửi khách. Kinh doanh lữ hành nhận khách Bao gồm cả nhận khách quốc tế và nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt động chính của nó là xây dựng các chương trình du lịch. quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách để bán các chương trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán cho khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách.
Loại kinh doanh này thích hợp với những nơi có tài nguyên du lịch nỗi tiếng. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành loại này được gọi là các công ty nhận khách. Kinh doanh lữ hành kết hợp Kinh doanh lữ hành kết hợp có nghĩa là sự kết hợp giữa kinh doanh lữ hành gửi khách và kinh doanh lữ hành nhận khách. Loại kinh doanh này thích hợp với doanh nghiệp quy mô lớn, có đủ nguồn lực đề thực hiện các hoạt động nhận và gửi khách.
Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành kết hợp được gọi là các công ty du lịch tổng hợp. Căn cứ vào quy định của luật du lịch Việt am Căn cứ vào Luật Du lịch Việt N am 2017, các doanh nghiệp lữ hành có thể tiến hành hoạt động kinh doanh theo 4 hình thức: - Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt N am. - Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài. - Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt N am và khách du lịch ra nước ngoài.
- Kinh doanh lữ hành nội địa. Đánh giá hiệu quả kinh doanh lữ hành 1. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh lữ hành SVTH: Đỗ Thị Quyên 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS: Bùi Đức Tính 1.
hóm các chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh Tổng doanh thu (TR): là tổng số tiền mà doanh nghiệp nhận được khi bán sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ đã sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này được tính như sau: TR = ∑Qi x Pi Trong đó: TR : doanh thu bán hàng Qi : sản lượng sản phN m i bán ra Pi : giá bán sản phN m i Tổng chi phí (TC): là tổng các khoản chi phí cố định và biến đổi ngắn hạn phát sinh khi doanh nghiệp sản xuất một mức sản lượng nhất định. Chỉ tiêu này được tính như sau: TC = FC + VC Trong đó: TC : chi phí bán hàng FC : chi phí cố định VC : chi phí biến đổi Lợi nhuận (L-): là số chênh lệch giữa các khoản doanh thu thu về so với các khoản chi phí bỏ ra.