Chương 1, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước dé hình thành cơ sở lý luận và khung phân tích cho nghiên cứu. Chương 2, nghiên cứu đánh giá tổng quan về nền kinh tế và sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2008 đến nay. Đồng thời chương 2 cũng thực hiện phân tích tương quan tác động của từng biến số kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán VNIndex. Chương 3, trình bày phương pháp nghiên cứu, chỉ định và mô tả các biến số kinh tế vĩ mô được lựa chọn dé hồi quy, cũng như các bước phân tích thực nghiệm dé ước lượng mô hình đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán VNIndex.
Chương 4, thực hiện phân tích kết quả thực nghiệm dé đánh giá mức độ tác động của các biến số vĩ mô: lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tốc độ tăng chỉ sé công nghiệp, cũng như ảnh hưởng của yếu tố ngoại sinh là giá vàng, giá dau tới chỉ số giá chứng khoán VNIndex. Đến chương 5, dựa trên phân tích thực trạng và kết quả hồi quy mô hình thực nghiệm kết hợp với bối cảnh trong và ngoài nước tác giả đưa ra một số khuyên nghị dé giúp thị trường chứng khoán phát triển ồn định và hiệu quả. CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết q về đầu tư Mọi sự vận động của nền kinh tế đều tác động tới thị trường chứng khoán, điều này được James Tobin (1969) xây dựng trong “Lý thuyết g về đầu tư”.
Hau hết giá trị của doanh nghiệp là giá trị tư bản mà doanh nghiệp sở hữu nên chúng ta có thể sử dụng giá trị thị trường của cô phiếu như thước đo giá trị thị trường của khối lượng tư bản mà doanh nghiệp dang sở hữu. Nếu gọi V; là giá trị thị trường của cô phiêu doanh nghiệp đã phát hành tại thời điểm ¢, K; là khối lượng tư bản doanh nghiệp sở hữu tại thời điểm í, PK: gia hiện tai của tư bản trên thi trường nhân tố thời kỳ ft, thi chỉ số g-Tobin được xác định như sau: Vt Chỉ số g-Tobin = PKt*Ke Trong đó pxK chính là chi phi thay tư bản đã lắp đặt. Nếu khoản chi phí này không thay đổi nhiều, thì khi thị trường chứng khoán bùng nỗ giá trị V sẽ tăng và chỉ số q của hầu hết các doanh nghiệp sẽ lớn hơn 1, làm gia tăng tỷ lệ đầu tư. Thông thường khi thị trường chứng khoán có chỉ số giá chứng khoán đạt ở mức cao thì doanh nghiệp có lợi hơn nếu như họ đầu tư mở rộng về tư bản.
Tuy nhiên, phụ thuộc rất nhiều vào lợi nhuận hiện tại hay lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp quyết định giá trị của V là lớn hay nhỏ. Nếu chi phí sử dụng tư bản nhỏ hơn MPK thì tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, kéo theo sự tăng trưởng của thị giá cô phiếu doanh nghiệp trên thị trường, tức là chỉ số g cao. Nếu chi phí sử dụng tư bản lớn hơn MPK thì làm tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, làm giá trị thị trường của cô phiếu doanh nghiệp bị giảm, tức chỉ số z là thấp. Hoặc khi lãi suất thực tế tăng làm chi phi sử dụng tư bản tăng, làm chỉ số g giảm từ đó giảm động lực đầu tư.
Mức giá ca chung Lam phát là sự gia tăng mức giá ca chung liên tục và dang kể, thường đi kèm với sự tăng trưởng kinh tế và tăng số lượng công ăn việc làm. Bản thân lạm phát không phải là xấu, vì lạm phát có thé khuyến khích kinh tế phát triển. Sự gia tăng giá cả vừa phải và đều đặn có khuynh hướng kích thích đầu tư, ké cả dau tư trong nước và đầu tư nước ngoài, duy trì tỷ lệ công ăn việc làm cao và gia tăng GDP. Khi lạm phát tăng đến mức quá cao (siêu lạm phát hay lạm phát phi mã) sẽ gây ton thất cho nền kinh tế.
11 Tỷ lệ lạm phát tăng thường làm tăng lãi suất của các loại chứng khoán có thu nhập có định mới và vì vậy, giảm giá của chứng khoán nợ hiện hành, trong khi đó, tỷ lệ lạm phát giảm có tác động ngược lại. Khi đó, các chứng khoán nợ mới được phát hành với lãi suất thấp hơn cà làm tăng giá chứng khoán nợ hiện hành. Nói chung, lạm phát thay đổi (sự khác biệt giữa lạm phát thực tế và lạm phát dự tính sẽ dẫn đến một loạt quan hệ tái phân phối trong xã hội: đi vay và cho vay; chủ và thợ, các đối tác trong các hợp đồng đã ký có định, thuế, v. Các chỉ báo kinh tế Theo các nhà phân tích kinh tế, nền kinh tế chuyên động theo một xu hướng lặp đi lặp lại được gọi là chu kỳ kinh tế, được xác định bởi những giai đoạn phát triển, hưng thịnh, luân phiên với các giai đoạn kinh tế suy thoái mà biểu hiện của nó là phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hẹp và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
Để nhận biết được nên kinh tế đang ở giai đoạn nào của chu kỳ kinh tế, các nhà kinh tế phải xác định được các nhân tố định lượng nhất định trong nội bộ nên kinh tế có diễn biến biên quan đến chu kỳ kinh tế. Họ gọi những nhân tố này là các chủ báo kinh tế. Các nhà kinh tế tin rằng, những thay đổi đáng kể của các chỉ báo có khuynh hướng của nén kinh tế hiện tại, đồng thời, cũng giúp cho các nhà phân tích và những nghiên cứu dự đoán về xu hướng vận động của nền kinh tế trong tương lai. Sản lượng công nghiệp chính là một chi báo đồng thời, sản lượng và doanh số giảm sút chắc chắn nền kinh tế đang suy thoái, ngược lại, khi các chỉ báo này tăng có nghĩa là nền kinh tế đang tăng trưởng.
Sự can thiệp của chính phú đến nên kinh tế Học thuyết Keynes về lãi suất đã chỉ ra tỉnh ưa thích tiền mặt là đại lượng đo cung, cầu tiền và có tác động lớn đến lãi suất. Nếu cầu tiền vượt cung tiền (dân chúng muốn giữa nhiều tiền hơn lượng tiền hiện có), khi đó, mọi người sẽ đi vay và nhu cầu tiền làm cho lãi suất thị trường tăng lên. Nếu cung tiền lớn hơn cầu tiền (có nhiều tiền hơn và lượng mà dân chúng muốn giữ), họ muốn đây lượng tiền này đi làm cho lãi suất giảm xuống. Lãi suất cân bằng là lãi suất mà tại đó, tông lượng tiền nắm giữ băng số tiền mà dân chúng muốn nắm giữ, khi chung bằng cầu, lãi suât đạt mức cân băng.
Lãi suất có tác động trực tiếp tới giá cô phiếu theo công thức định giá cỗ phiêu như sau : 12 CF, CF, CF, + > + —— Po = + —_— + P, 1+r (1+r}ˆ (1+r)" Trong đó: Po, Pn: giá cô phiếu thời điểm hiện tai, thời điểm thứ n., CFn: dòng tiền thời điểm thứ nhất, thứ 2,. Lãi suất được xem là chỉ tiêu đánh giá tổng quan quan trọng nhất khi phân tích chứng khoán bởi nó phản ánh quan hệ cung cầu vốn của nền kinh tế. Phân tích sự biến động lãi suất giúp cho các nhà phân tích đánh giá và dự báo rủi ro lãi suất đối với khoản vốn đầu tư của họ trên thị trường chứng khoán. Tỷ giá hoi đoái Tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ giảm giá, sẽ làm tăng khối lượng xuất khâu nếu cầu đối với mặt hàng xuất khẩu là co giãn.
Xuất khâu tăng giúp tăng doanh thu của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước, tác động làm tăng giá chứng khoán. Mặt khác, trong trường hợp hàng hóa xuất khẩu có đường cầu không co giãn, giá hàng hóa xuất khẩu giảm tương đối mà khối lượng xuất khẩu không tăng như kỳ vọng, do đó thu nhập từ xuất khẩu giảm. Thu nhập xuất khâu giảm sẽ làm giảm thu nhập doanh nghiệp và sau đó là giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, làm cho giá chứng khoán giảm. Tuy nhiên, khi đồng nội tệ tăng giá dẫn đến khối lượng xuất khẩu giảm nếu cầu hàng hóa và dịch vụ xuất khâu có cầu co giãn.
Điều này có thé giải thích là do việc tăng giá hàng xuất khẩu sẽ dẫn đến giảm lượng cau. Xuất khâu giảm dẫn đến thu nhập của người dân trong nước thấp hơn làm giảm dau tư, do đó giá cô phiếu giảm. Điều ngược lại là đúng khi nhu cầu về xuất khẩu không co giãn. Giá cả hàng hóa tăng lên do tiền tệ tăng giá sẽ dẫn đến lượng cầu giảm ít hơn tương ứng và đo đó tăng thu nhập.
Điều này cuối cùng sẽ giúp công ty tăng lợi nhuận, từ đó tăng giá cô phiếu. Tổng quan nghiên cứu về thực nghiệm 1. Các nghiên cứu nước ngoài a. Nghiên cứu cua các nước phát trién Gan và cộng sự (2006) phân tích các biến động kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán New Zealand.
Nghiên cứu này tác giả xem xét mối quan hệ giữa chỉ số chứng khoán New Zealand (NZSE40) và bảy biến số vĩ mô trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1990 đến tháng 1 năm 2003. Ap dụng kiểm định Johansen và kiêm định nhân qua Granger dé chỉ ra cú soc tông sản phâm quôc nội có ảnh hưởng 13 thuận chiều tới chỉ số NZSE40 trong suất 24 tháng và đạt đỉnh ở tháng thứ 10. Trong khi đó các cú sốc tỷ giá, lạm phát, lãi suất gây nên ảnh hưởng không thuận lợi. Cung tiền MI của New Zealand bị tác động mạnh bởi các nhà đầu tư đến từ nước ngoài nên cú sốc MI có mối tương quan trái chiều với thị trường chứng khoán.
Ảnh hưởng tích cực của cú sốc giá dầu bán lẻ lên chỉ số NZSE40 sau tám tháng là không phù hợp với kỳ vọng, do New Zealand là quốc gia nhập khẩu dầu rong. Talla (2013) phân tích tác động của các yêu tố kinh tế vi mô lên giá cô phiếu của Sở giao dịch chứng khoán Stockholm (OMXS30) của Thụy Điền. Hai phương pháp là hồi quy mô hình bình phương nhỏ nhất thông thường kết hợp với kiểm định nhân quả Granger đã được áp dụng dé kiểm tra chuỗi dữ liệu theo được thu thập theo tháng trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2012. Kết quả nghiên cứu chỉ ra lạm phát có anh hưởng khá mạnh và tiêu cực tới giá cô phiếu.
Đồng thời, lãi suất cũng có mối tương quan ngược chiều nhưng anh hưởng được tìm thấy là nhỏ. Mặt khác, cung tiên có ảnh hưởng thuận lợi tới giá cô phiêu với cường độ nhỏ. Ciftci (2014) tìm kiếm tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô tới thị trường chứng khoán.