CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TỚI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN 1. Khái niệm biện pháp phi thuế quan Đã từ lâu, khi đề cập tới khái niệm biện pháp phi thuế quan, các nhà kinh tế đều hiểu là “những biện pháp hạn chế xuất khẩu từ nước ngoài và những biện pháp có tác động tương tự”. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong nội dung của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) và các văn bản của Hội nghị Liên Hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD).
Nhưng trong các giáo trình thì vẫn gọi các biện pháp phi thuế quan là hàng rào (barriers) hoặc sự bóp méo thương mại (distortion). Các nhà kinh tế, các nhà làm luật đôi khi sử dụng chung một thuật ngữ cho các khái niệm khác nhau, hoặc sử dụng các thuật ngữ khác nhau cho cùng một khái niệm. Thuật ngữ “Biện pháp” (tiếng Anh là Measure) thường được hiểu là các hành động hoặc phi hành động của khu vực tư nhân hoặc chính phủ, trong khi thuật ngữ “quy định” (tiếng Anh là Regulation) chỉ được hiểu là hành động của Chính phủ. Với cách tiếp cận như vậy, theo nghĩa rộng, các biện pháp phi thuế quan là các biện pháp chính sách, không phải là biện pháp thuế quan, liên quan tới chi phí thương mại từ quá trình sản xuất cho tới người tiêu dùng cuối cùng.
Theo UNCTAD (2010), “Biện pháp phi thuế quan là các biện pháp chính sách, không phải là biện pháp thuế quan thông thường, có khả năng ảnh hưởng kinh tế tới thương mại hàng hóa, làm thay đổi khối lượng giao dịch hoặc/và giá hàng hóa”. Như vậy, “biện pháp phi thuế quan” được hiểu là các biện pháp thuộc về chính sách của Chính phủ mà không phải là các quy định liên quan tới thuế quan, có ảnh hưởng tới thương mại hàng hóa. Tuy các biện pháp phi thuế quan không áp dụng cho thương mại dịch vụ, song hiện nay, một số biện pháp dịch vụ mà Chính phủ các nước sử dụng để điều chỉnh thương mại dịch vụ cũng có tác động giống như biện pháp phi thuế quan, nhưng tên gọi sẽ khác đi. Phân loại các biện pháp phi thuế quan 1.
Phân loại các biện pháp phi thuế quan theo các nhóm công cụ áp dụng cho hoạt động xuất nhập khẩu Thông thường các biện pháp phi thuế quan sẽ được chia thành 3 nhóm công cụ: Nhóm thứ nhất là các công cụ áp dụng cho hàng nhập khẩu. Nhóm thứ hai là công cụ áp dụng cho hàng xuất khẩu. Nhóm công cụ thứ ba thông thường được áp dụng ở trong nước, gọi là nhóm công cụ quy định ở trong nước (behind - the - border measures) như các quy định liên quan tới sức khỏe, tiêu chuẩn về sản phẩm, tiêu chuẩn môi trường, thuế và phí áp dụng nội địa và các loại hình trợ cấp trong nước… Hội nghị của Liên Hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) lần đầu tiên phân loại các biện pháp phi thuế quan theo các tiếp cận trên. Theo phân loại của UNCTAD (2010), các biện pháp phi thuế quan được chia theo các nhánh hình cây, được gọi là chương (Chapter), phụ thuộc vào phạm vi áp dụng và mục tiêu điều chỉnh của các biện pháp.
Mỗi chương được đánh theo chữ cái từ A tới P. Sau đó mỗi chương lại được chia thành các nhánh phụ/bộ phận nhỏ bên trong, theo mục tiêu điều chỉnh của từng biện pháp tác động tới thương mại quốc tế. Tùy thuộc vào số lượng của các biện pháp trong từng nhánh phụ mà mỗi biện pháp được đánh số thứ tự tới 3 chữ số, tương tự như cách phân chia Mã Hải quan (Harmonization System - HS) cho hàng hóa. Các chương phản ánh quy định của từng quốc gia đối với hoạt động nhập khẩu từ chương A tới O, trừ chương P là quy định của nước xuất khẩu (Bảng 1.
Đây cũng là cách phân loại các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà quản lý thương mại quốc tế của một quốc gia tuân thủ theo.1 ta thấy: Chương A là các biện pháp về kiểm dịch động thực vật, thường được gọi là các biện pháp SPS, bao gồm các quy định, điều kiện, yêu cầu bắt buộc nhằm: (i) bảo đảm an toàn thực phẩm như rủi ro từ chất phụ gia, độc tố, dịch bệnh phát tán từ động thực vật; (ii) bảo vệ con người, vật nuôi, động thực vật khỏi các dịch bệnh có nguồn gốc từ động thực vật; (iii) quy trình đánh giá sự phù hợp đảm bảo an toàn thực phẩm như giấy chứng nhận, kiểm tra và thanh tra… Chương B là các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, còn gọi tắt là TBT, trình bày các biện pháp như nhãn mác, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu chất lượng hàng hóa và các biện pháp nhằm mục đích bảo vệ môi trường. Chương 12 B cũng quy định các biện pháp đánh giá sự phù hợp lien quan tới yêu cầu kỹ thuật như các giấy chứng nhận, kiểm tra và thanh tra. Chương C là các biện pháp kiểm tra trước khi giao hàng và các thủ tục hải quan khác.1: Phân loại các biện pháp phi thuế quan theo UNCTAD Các biện Tên nhóm biện Tên biện pháp (Tiếng Anh) Tên biện pháp (Tiếng Việt) pháp áp pháp dụng Technical A Sanitory and Phytosanitory A Biện pháp kiểm dịch động thực vật cho hoạt Measures (Các B Technical Barriers to Trade B Hàng rào kỹ thuật đối với thương động biện pháp kỹ mại nhập thuật) C Pre - shipment inspection and other C Kiểm tra trước khi giao hàng khẩu formalities Non - Technical D Contigent Trade - Protective D Các biện pháp phòng vệ thương mại Measures (Các Measures biện pháp kỹ E Non - Automatic Licensing, Quotas, E Giấy phép nhập khẩu không tự động, thuật) Prohibitions, and Quantity Control hạn ngạch nhập khẩu, cấm nhập khẩu Measures other than for SPS and TBT và các biện pháp kiểm soát số lượng reasons khác ngoài biện pháp SPS và TBT F Price control measures, including F Các biện pháp kiểm soát giá như additional taxes and charges thuế, phí bổ sung G Finance measures G Các biện pháp tài chính H Measures affecting competition H Các biện pháp ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh I Trade - Related Investment measures I Các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại J Distribution Restrictions J Các biện pháp hạn chế phân phối sản phẩm K Restrictions on Post - Sale services K Các biện pháp hạn chế dịch vụ hậu mãi L Subsidies (Excluding export L Các quy định về trợ cấp (Trừ biện subsidies under P7) pháp trợ cấp xuất khẩu quy định tại khoản 7 của chương P) M Government Procurement M Các biện pháp hạn chế đấu thầu Restrictions mua sắm Chính phủ N Intellectual Property N Các biện pháp về Quyền sở hữu trí tuệ O Rules of origin O Các quy định về xuất xứ hàng hóa Exports (Các P Export - Related Measures P Các biện pháp hạn chế xuất khẩu biện pháp áp dụng cho XK) (Nguồn: UNCTAD, 2010) Chương D là nhóm biện pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp, đặc biệt là ứng phó trước tác động nghiêm trọng của hoạt động nhập khẩu đối với thị trường trong nước, và ứng phó với các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh từ các nhà xuất khẩu 13 nước ngoài. Chương D chia thành các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
Chương E là các biện pháp truyền thống được sử dụng trong thương mại quốc tế, được coi là các biện pháp tương đối “khắc nghiệt”. Chương E bao gồm các biện pháp như giấy phép xuất khẩu, hạn ngạch, và các biện pháp kiểm soát số lượng khác như hạn ngạch thuế quan. Chương F gồm các biện pháp liên quan tới giá như kiểm soát giá trực tiếp, ảnh hưởng tới giá hàng hóa nhập khẩu, hỗ trợ giá hàng hóa trong nước nếu giá hàng hóa nhập khẩu thấp hơn, hoặc ổn định giá hàng hóa nội địa do sự thay đổi giá hàng hóa ở thị trường trong nước hoặc nước ngoài. Do đó các biện pháp chương F còn được gọi là biện pháp bán thuế (Para - tariff) vì ít nhiều đều ảnh hưởng tới giá hàng hóa nhập khẩu.
Chương G là các biện pháp tài chính như các biện pháp hạn chế thanh toán hàng nhập khẩu, yêu cầu cấp phép khi mua ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu… Chương H là các biện pháp ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hạn chế độc quyền, các ưu đãi, lợi thế cho một nhóm chủ thể trong nền kinh tế như các quy định về doanh nghiệp nhà nước, độc quyền phân phối hàng nhập khẩu hoặc độc quyền cung cấp dịch vụ. Chương I là các biện pháp liên quan tới hoạt động đầu tư nước ngoài như các biện pháp nhằm hạn chế hoạt động đầu tư với quy định về hàm lượng nội địa hóa hoặc các quy định yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài phải đảm bảo xuất khẩu để hỗ trợ cho nhập khẩu. Chương J và K bao gồm các biện pháp hạn chế việc tiếp cận thị trường của sản phẩm nhập khẩu. Đây vẫn được coi là biện pháp phi thuế quan, bởi nó ảnh hưởng tới quyết định hàng hóa có được nhập khẩu hay không.
Chương J đề cập tới các biện pháp hạn chế phân phối hàng hóa trong nước nhập khẩu ví dụ như hệ thống giấy phép bổ sung hoặc các yêu cầu phải có chứng chỉ. Chương K bao gồm các biện pháp hạn chế dịch vụ hậu mãi của nhà xuất khẩu ở nước nhập khẩu. Mặc dầu quốc gia vẫn cho phép hàng hóa nhập khẩu vào trong nước, nhưng những quy định về biện pháp phi thuế quan của chương J và K sẽ hạn chế việc lưu thông hàng hóa hay phân phối hàng hóa ở nước nhập khẩu. 14 Chương L, M, N và O là các biện pháp áp dụng trong quốc gia nhập khẩu.
Chương L mô tả các biện pháp trợ cấp tài chính của chính phủ cho các nhà sản xuất trong nước. Chương M chỉ ra các quy định hạn chế trong đấu thầu mua sắm công, trong đó hạn chế các nhà thầu nước ngoài và giành ưu đãi cho các nhà thầu trong nước. Chương N tập trung các biện pháp về quyền sở hữu trí tuệ, các quy định pháp lý điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ. Chương O là nhóm các biện pháp hạn chế nhập khẩu dựa vào xuất xứ hàng hóa, nhất là đầu vào cho nhập khẩu.
Chương cuối cùng với tên gọi P là các biện pháp nước xuất khẩu đặt ra để hạn chế xuất khẩu hàng hóa. Ví dụ như: thuế xuất khẩu, giấy phép xuất khẩu, hạn ngạch xuất khẩu, các quy định về cấm xuất khẩu… 1.