CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 1. Cở sở lý luận về thương mại quốc tế 1. Một số lý thuyết về thương mại quốc tế Luan van 7 1. Lý thuyết về Thương mại quốc tế của Chủ nghĩa trọng thương Lý thuyết về Thương mại quốc tế phát triển theo trình tự nhận thức từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp.
Trước hết là tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương. Tư tưởng này xuất hiện và phát triền từ giữa thế kỷ XV, XVI ở Châu Âu, thịnh hành suốt thế kỷ XVII và tồn tại đến giữa thế kỷ XVII. Khi đó, vàng bạc là thước đo thể hiện của cải của một quốc gia. Vì vậy, mỗi quốc gia càng tích lũy được nhiều vàng bạc thì càng giàu có, thịnh vượng, để làm được điều này thì quốc gia đó phải kích thích sản xuất trong nước đồng thời phát triển ngoại thương.
Mỗi nước chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương khi giá trị của xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu, được lợi là vì thặng dư của xuất khẩu so với nhập khẩu được thanh toán bằng vàng bạc mà chính nó thể hiện sự giàu có; xuất khẩu là có lợi, ngược lại nhập khẩu là có hại cho quốc gia. Các nhà trọng thương cho rằng chính phủ phải tham gia trực tiếp vào việc trao đổi hàng hóa giữa các nước để đạt được sự gia tăng của cải của quốc gia thông qua việc tổ chức xuất khẩu, đề ra các biện pháp khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008,tr. Ưu điểm của chủ nghĩa trọng thương đó là: Các nhà tư tưởng trọng thương cho rằng sự gia tăng vàng bạc trong nền kinh tế có tác dụng kích thích sản xuất trong nước. Bên cạnh đó họ cũng sớm nhận thức được vai trò quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết hoạt động kinh tế thông qua các công vụ thuế quan, lãi suất đầu tư, hạn chế nhập khẩu.
Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này đó là các quan điểm của chủ nghĩa trọng thương còn đơn giản chẳng hạn coi vàng bạc là hình thức của cải duy nhất của một đất nước, đánh đồng mức cung ứng tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia, nhìn nhận thương mại quốc tế là việc trao đổi với tổng lợi ích bằng không, nghĩa là một bên thu được lợi ích đúng bằng chi phí hay thiệt hại của bên kia. Ngoài ra, chủ nghĩa trọng thương cũng chưa giải thích được bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế; chưa giải thích được cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế được xác định như thế nào, tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất…Vì vậy đòi hỏi lý thuyết khác có khả năng giải thích đúng hơn về thương mại giữa các nước. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Luan van 8 Nhà kinh tế học Adam Smith là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có hệ thống về nguồn gốc thương mại quốc tế. Ông bắt đầu với giả thiết đơn giản là có hai quốc gia tham gia thương mại với nhau và cả hai đều có lợi ích từ việc trao đổi hàng hóa, Ông cũng giải thích lợi ích và nguồn gốc lợi ích tạo ra từ thương mại.
Theo Adam Smith, thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối, đó là khi một quốc gia sản xuất một hàng hóa có hiệu quả hơn so với quốc gia kia nhưng lại kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hóa thứ hai thì cả hai quốc gia có thể thu được lợi bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối đồng thời nhập khẩu hàng hóa không có lợi thế. Quá trình thương mại này sẽ giúp các nguồn lực được sử dụng hiệu quả nhất và sản lượng của hàng hóa đều cao hơn. Theo học thuyết của Adam Smith thì lợi thế tuyệt đối còn được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu cũng như kỹ năng tay nghề của từng quốc gia, Adam Smith cho rằng hoạt động kinh tế phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định. Như vậy, khác với chủ nghĩa trọng thương cho rằng chỉ quốc gia xuất khẩu có lợi và đề xuất chính phủ can thiệp vào nền kinh tế thì Adam Smith lại cho rằng tất cả các quốc gia khi tham gia vào thương mại tự do thì đều có lợi và chính phủ không cần can thiệp vào nền kinh tế để thương mại tự do phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008, tr.
Ưu điểm học thuyết này đó là khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa trọng thương, vạch ra cơ sở khoa học để tạo ra giá trị là hoạt động sản xuất chứ không phải hoạt động lưu thông. Đây là lý thuyết đầu tiên đề cập đến việc chuyên môn hóa cũng như chỉ ra những lợi ích từ việc này. Bên cạnh đó thì lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith cũng có mặt hạn chế đó là chỉ có thể giải thích một phần nhỏ trong hoạt động thương mại Thế giới ngày nay. Lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo Cở sở của lý thuyết này chính là luận điểm của David Ricardo về sự khác biệt giữa các quốc gia không chỉ về điều kiện tự nhiên và tay nghề mà còn điều kiện sản xuất nói chung.
Ông cho thấy rằng thực tế các quốc gia không có nhiều lợi thế tuyệt đối, họ vẫn tiến hành trao đổi hàng hóa với quốc gia khác và đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế dựa trên cơ sở khai thác lợi thế tương đối. Ricardo Luan van 9 khi xây dựng lý thuyết đã đưa ra các giả thuyết sau nhằm đơn giản hóa mô hình: phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai loại hàng hóa; thương mại quốc tế hoàn toàn tự do; các yếu tố sản xuất di chuyển trong phạm vi một quốc gia nhưng không được di chuyển ra bên ngoài; chi phí sản xuất là cố định; không có chi phí vận chuyển; công nghệ của hai quốc gia như nhau và dựa trên lý thuyết tình giá trị bằng lao động. Khi ấy theo nguyên tắc của lợi thế tương đối, nếu một quốc gia kém hiệu quả hơn so với quốc gia khác trong việc sản xuất cả hai loại hàng hóa thì việc trao đổi vẫn được thực hiện và đem lại lợi ích cho cả hai bên. Một quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà nước đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu hàng hóa mà nước đó không có lợi thế so sánh (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008, tr.
Lý thuyết lợi thế tương đối của Ricardo được coi là lý thuyết cơ bản, đặt cơ sở nền tảng cho thương mại quốc tế và cũng được coi là lý thuyết qua trọng nhất của nền kinh tế quốc tế. Lý thuyết này chỉ ra cơ sở khoa học của thương mại quốc tế là sự khác biệt về lợi thế tương đối trong sản xuất hàng hóa. Có thể thấy lý thuyết của D.Ricardo giống với lý thuyết của Adam Smith ở quan điểm ủng hộ tự do hóa thương mại, tuy nhiên D. Ricardo cho rằng chính phủ cần tích cực thúc đẩy và khuyến khích tự do hóa thương mại.
Có thể nói, lý thuyết này đã khắc phục được hạn chế của lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith đồng thời chỉ ra được lợi ích của quá trình phân công lao động quốc tế. Vì vậy, lý thuyết lợi thế tương đối mang tính khái quát lớn hơn, tuy nhiên lý thuyết này tồn tại mặt hạn chế đó là Ricardo đã vận dụng lý thuyết tính giá trị bằng lao động để nghiên cứu mô hình thương mại quốc tế, vì thế mà lý thuyết này chưa giải thích được nguồn gốc phát sinh của lợi thế tương đối của một quốc gia đối với loại hàng hóa cụ thể, chưa giải thích được triệt để nguyên nhân sâu sa của quá trình thương mại. Lý thuyết Heckscher – Ohlin (H-O) Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nước đều hướng tới chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác, theo lý thuyết H-O một số nước có lợi thế so sánh hơn trong việc xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm hàng hoá sử dụng Luan van 10 được những yếu tố sản xuất mà nước đó được ưu đãi hơn so với nước khác.
Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu.) đã khiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) trong sản xuất những sản phẩm nhất định (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008, tr. Nhìn chung cơ sở lý luận của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất (các nguồn lực sản xuất). Do vậy, lý thuyết H-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có”. Thuyết này đã kế thừa và phát triển một cách logic các yếu tố khoa học trong lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và các lý thuyết cổ điển trước đó về thương mại quốc tế.
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của thương mại quốc tế ngày nay, song quy luật H-O vẫn là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và được nhiều quốc gia vận dụng trong hoạch định chính sách thương mại quốc tế. Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có theo thuyết H-O sẽ là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác thương mại quốc tế và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này. Khái niệm cán cân thương mại Cán cân thương mại là một bộ phận cấu thành của cán cân thanh toán và được phản ánh cụ thể trong cán cân tài khoản vãng lai.