Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới được triển khai trên phạm vi toàn quốc với sự tham gia của 9.025 xã nhằm nâng cao toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội khu vực nông thôn. Tính đến năm 2014, cả nước có 185 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí (chiếm tỷ lệ 2,05%) và 622 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí (chiếm 6,9%). Trong bối cảnh đó, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nổi lên như một điểm sáng điển hình khi trở thành một trong hai đơn vị cấp huyện đầu tiên trên cả nước được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới vào ngày 24/01/2015. Trong giai đoạn 2009-2014, toàn huyện có 13/14 xã hoàn thành toàn bộ các tiêu chí (đạt 92,86%), huy động gần 14.000 hộ dân tự nguyện hiến 700.000 m2 đất và đóng góp gần 200.000 lượt ngày công lao động.

Tuy nhiên, đằng sau những thành tích ấn tượng về mặt số lượng tiêu chí, kết quả điều tra dư luận xã hội theo Kế hoạch số 223-KH/BTGTU của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai năm 2013 chỉ ra rằng tỷ lệ người dân tiếp nhận thông tin và được tư vấn về chương trình tại huyện Xuân Lộc chỉ đạt 25%, mức thấp nhất trong số 11 địa phương được khảo sát của tỉnh. Thực tế này bộc lộ một khoảng cách lớn giữa mục tiêu chính sách dựa vào cộng đồng và phương thức thực thi hành chính từ trên xuống. Sự tham gia của người dân có xu hướng suy giảm rõ rệt theo thang đo từ nhận biết thông tin đến bàn bạc, thực hiện và kiểm tra, giám sát.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là liệu một mô hình phát triển đạt 19/19 tiêu chí nhưng thiếu vắng sự chủ động tự quyết của người dân có đảm bảo được tính bền vững dài hạn hay không. Luận văn tập trung đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng dân cư tại 8 xã đại diện trên địa bàn huyện Xuân Lộc giai đoạn 2008-2015, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định thể chế, bảo đảm người nông dân thực sự đóng vai trò chủ thể trong chính sách công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết về quản trị công và sự tham gia của cộng đồng nhằm thiết lập khung đánh giá đa tầng:

  • Khung lý thuyết 6 cấp độ tham gia của Pierre André: Phân chia mức độ tham gia của người dân theo tiến trình liên tục gồm: tham gia thụ động, tham gia qua cung cấp thông tin, tham gia với vai trò tư vấn, tham gia vào thực hiện, tham gia vào quá trình ra quyết định, và tham gia tự nguyện huy động nguồn lực.
  • Thang đo nấc thang tham gia của Sherry Arnstein và David Wilcox: Mô hình hóa sự tham gia qua 8 bậc từ thấp đến cao, bao gồm: vận động, trị liệu, cung cấp thông tin, tham vấn, động viên xoa dịu, hợp tác đối tác, ủy quyền và cấp độ cao nhất là người dân tự quản lý toàn diện.
  • Hệ thống khái niệm chủ đạo: Sự tham gia của người dân (Citizen Participation), Dân chủ cơ sở (Grassroots Democracy), Nông thôn mới (New Rural Development) và Phân cấp quản trị địa phương (Decentralized Governance).
  • Kinh nghiệm quốc tế tham chiếu: Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc với nguyên tắc cốt lõi là Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác, trong đó nhà nước giảm dần tỷ lệ tài trợ vật tư qua từng năm để nhân dân tự quyết định thiết kế và thi công công trình; cùng phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại tỉnh Oita, Nhật Bản giai đoạn 1979-1999 tạo ra 329 dòng sản phẩm nông nghiệp đặc trưng nhờ khơi dậy tinh thần tự chủ của người sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và cỡ mẫu: Đề tài tiến hành khảo sát định lượng trực tiếp thông qua bảng hỏi tiêu chuẩn đối với cỡ mẫu N = 216 hộ dân sinh sống tại 8 xã đại diện của huyện Xuân Lộc (gồm các xã: Xuân Hòa, Xuân Trường, Xuân Định, Xuân Phú, Xuân Thọ, Xuân Bắc, Suối Cao, Lang Minh). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm bao phủ đa dạng các nhóm hộ sản xuất nông nghiệp, các vùng chuyên canh cây trồng và các mức độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau.
  • Phỏng vấn sâu chuyên gia: Thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, lãnh đạo Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Xuân Lộc, Thường trực Ban Chỉ đạo Nông thôn mới cấp xã, Trưởng ấp và Chủ nhiệm các Câu lạc bộ Năng suất cao.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống báo cáo chính thức từ Ban Chỉ đạo Nông thôn mới tỉnh Đồng Nai (Báo cáo số 192/BC-BCĐ-VPĐP), báo cáo đầu tư xây dựng cơ bản của UBND huyện Xuân Lộc giai đoạn 2009-2014, cùng các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết 26-NQ/TW và Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích đối chiếu chính sách (Policy Gap Analysis). Lý do lựa chọn cách tiếp cận này là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ phân bổ nhận thức của người dân ở từng nấc thang tham gia, đồng thời đối chiếu sự sai biệt giữa quy định pháp lý trên văn bản với hành vi thực tế tại cơ sở, từ đó đưa ra những luận giải có độ tin cậy khoa học cao. Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được hoàn tất trong mốc thời gian nghiên cứu năm 2014-2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 216 phiếu điều tra tại huyện Xuân Lộc cung cấp các minh chứng định lượng phản ánh thực trạng tham gia của người dân qua 4 nhóm nội dung chính:

  • Nhận thức và tiếp cận thông tin: Tỷ lệ người dân biết đến chương trình đạt 59,8%, nhưng mức độ hiểu biết sâu về Bộ tiêu chí chỉ đạt 56,5% và đa số không nắm rõ lộ trình thực hiện cụ thể của địa phương. Kênh tiếp nhận thông tin chủ yếu mang tính một chiều qua hệ thống loa phát thanh xã (154 lượt lựa chọn) và truyền hình (85 lượt lựa chọn). Có tới 80,6% người dân không tham gia hoặc tham gia rất ít vào các hoạt động tuyên truyền (trong đó 34,3% không tham gia bất kỳ buổi nào và 46,3% chỉ tham gia từ 1 đến 2 lần trong suốt 5 năm). Ngoài ra, hơn 50% số hộ được hỏi khẳng định không được thông báo về quy hoạch sử dụng đất và phương án quản lý nguồn vốn đóng góp.
  • Tham gia bàn bạc và đóng góp ý kiến: 59,3% người dân cho rằng họ cần được chính quyền mời đóng góp ý kiến trước khi triển khai dự án, tuy nhiên chỉ có 13,4% nhận thức được quyền tham gia vào quá trình ra quyết định cuối cùng. Đáng chú ý, 65,7% người dân chưa từng tham gia lập kế hoạch phát triển nông thôn tại địa phương (nguyên nhân chủ yếu do không có thời gian chiếm 47,2% và không được chính quyền mời chọn chiếm 23,1%). Dù vậy, đối với các khoản huy động tài chính trực tiếp, có tới 51,4% khẳng định mức đóng góp phải do chính người dân trực tiếp bàn thảo và biểu quyết quyết định.
  • Tham gia thực hiện và đóng góp nguồn lực: Tỷ lệ người dân trực tiếp tham gia vào các công trình xây dựng chỉ đạt 38,0%. Trong số các hình thức tham gia, đóng góp bằng tiền mặt chiếm ưu thế với 41,2%, hiến đất chiếm 31,5% và góp ngày công lao động chiếm 16,7%. Tổng nguồn vốn đầu tư toàn huyện giai đoạn 2009-2014 đạt 12.754,2 tỷ đồng, trong đó vốn trực tiếp của nhân dân đóng góp vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật là 234,4 tỷ đồng (chiếm khoảng 2%), trong khi nguồn vốn tự đầu tư phát triển sản xuất của khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân lên tới 8.101,1 tỷ đồng (chiếm 63,5%).
  • Tham gia kiểm tra, giám sát và nghiệm thu công trình: Tỷ lệ người dân tham gia giám sát các công trình công cộng tại xã ở mức rất thấp, chỉ đạt 19,4%, trong khi có đến 80,6% không tham gia. Lý do chính là người dân tin rằng địa phương đã có ban giám sát chuyên trách hoặc thuê tư vấn độc lập (chiếm 75,9%). Có tới 75,5% người dân hoàn toàn đứng ngoài hoạt động nghiệm thu công trình và 40,3% xem việc nghiệm thu là trách nhiệm riêng của cơ quan nhà nước.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chứng minh rằng mô hình xây dựng Nông thôn mới tại huyện Xuân Lộc vận hành chủ yếu theo cơ chế áp đặt hành chính từ trên xuống (top-down) thay vì cơ chế phát triển nội sinh từ dưới lên (bottom-up). Sự thành công trong việc hoàn thành 19/19 tiêu chí quốc gia và 54 chỉ tiêu của tỉnh Đồng Nai phụ thuộc lớn vào sự quyết liệt của bộ máy chỉ đạo cấp huyện cùng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh rót về (999,4 tỷ đồng), chứ không phản ánh mức độ tự quản cao của cộng đồng.

Quy luật suy giảm mức độ tham gia thể hiện rõ nét qua các bậc thang của David Wilcox. Người dân dừng lại ở bậc "cung cấp thông tin một chiều" và "tham vấn hình thức", trong khi bậc "hợp tác đối tác" và "người dân tự quản" gần như chưa được thiết lập. Khoảng trống pháp lý trong Quyết định 800/QĐ-TTg – vốn chỉ quy định dừng ở mức "lấy ý kiến cộng đồng" – đã hạn chế quyền năng ra quyết định thực chất của nông dân.

Điểm sáng nổi bật nhất của huyện Xuân Lộc nằm ở sự tham gia tự nguyện vào các mô hình kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao. Mô hình Câu lạc bộ Năng suất cao được hình thành từ năm 2008 đã phát triển lên 450 câu lạc bộ với 10.116 thành viên canh tác trên 9.000 ha, cùng 15 Liên hiệp Câu lạc bộ Năng suất cao. Thông qua việc chuyển đổi cây trồng và áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, thu nhập bình quân đầu người của huyện đã tăng từ 12,426 triệu đồng năm 2008 lên 37,617 triệu đồng năm 2014 (tăng 3,02 lần), và giá trị sản xuất trồng trọt tăng 169,5% (đạt 115,52 triệu đồng/ha/năm). Điều này cho thấy khi chính sách chạm đúng lợi ích kinh tế thiết thân, người nông dân sẵn sàng chuyển dịch từ trạng thái thụ động sang chủ động hợp tác.

Trong các báo cáo chính sách, dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ hình phễu thể hiện sự suy giảm tỷ lệ qua các nấc thang tham gia (Biết: 59,8% -> Bàn: 34,3% -> Làm: 38,0% -> Giám sát: 19,4%), kết hợp cùng biểu đồ tròn phân tích cơ cấu 12.754,2 tỷ đồng vốn huy động để làm rõ sự áp đảo của khu vực tư nhân và hộ gia đình (63,5%) so với ngân sách nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển đổi căn bản vai trò của người nông dân từ người thụ hưởng thụ động sang chủ thể tự quyết trong tiến trình xây dựng Nông thôn mới, các giải pháp chính sách cần được thực thi đồng bộ:

  • Hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa quy trình tham vấn cộng đồng bắt buộc: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh ban hành quy chế khung quy định tỷ lệ tối thiểu 80% hộ dân tại địa bàn phải được lấy ý kiến trực tiếp trước khi phê duyệt quy hoạch và đề án phát triển xã giai đoạn 2026-2027.
  • Thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách khối linh hoạt cho cơ sở: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai cần thí điểm cấp ngân sách phát triển nông thôn trọn gói từ 2 đến 5 tỷ đồng/xã/năm, trao toàn quyền cho cộng đồng thôn ấp tự họp bàn, lựa chọn danh mục công trình hạ tầng ưu tiên phù hợp với nguồn lực địa phương trong kỳ ngân sách 2026-2030.
  • Đổi mới chiến lược truyền thông và nâng cao năng lực quản trị cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc giao Phòng Nông nghiệp và Trung tâm Chính trị huyện định kỳ hàng năm tổ chức tối thiểu 2 khóa bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch và giám sát cộng đồng cho 100% cán bộ thôn ấp và đại diện các tổ chức đoàn thể.
  • Minh bạch hóa toàn diện thông tin và trao quyền kiểm tra, giám sát thực chất: Ủy ban nhân dân cấp xã bắt buộc niêm yết công khai 100% dự toán thu chi, nguồn tài trợ và tiến độ thi công công trình tại nhà văn hóa ấp và trên các nền tảng số; đồng thời tăng cường tỷ lệ đại diện không chuyên trách của người dân trong Ban Thanh tra nhân dân lên trên 70%.
  • Thúc đẩy và mở rộng các mô hình liên kết kinh tế tự quản: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Xuân Lộc chủ trì nâng cấp 15 Liên hiệp Câu lạc bộ Năng suất cao thành các Hợp tác xã kiểu mới gắn với chuỗi giá trị và chương trình phát triển sản phẩm đặc thưng nông nghiệp địa phương trước năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cao cho nhiều nhóm độc giả:

  • Cán bộ quản lý và chuyên viên hoạch định chính sách công: Đội ngũ công tác tại Ban Chỉ đạo Nông thôn mới các cấp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư tham khảo để xây dựng tiêu chí đánh giá thực chất, tránh bệnh thành tích và tối ưu hóa cơ chế điều tiết ngân sách đầu tư công.
  • Lãnh đạo chính quyền địa phương cấp huyện và xã: Các nhà quản lý cơ sở có thể học hỏi bài học kinh nghiệm từ mô hình quản lý xây dựng đường giao thông nông thôn của huyện Xuân Lộc (tiết kiệm 340,93 tỷ đồng), cũng như cách thức tháo gỡ điểm nghẽn trong việc huy động người dân tham gia kiểm tra, nghiệm thu công trình.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Chính sách công, Quản lý công, Xã hội học nông thôn và Phát triển cộng đồng có thêm nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp thang đo quốc tế với dữ liệu điều tra thực địa tại Việt Nam.
  • Các tổ chức xã hội, hiệp hội ngành nghề và ban quản lý thôn ấp: Các trưởng ấp, đại diện đoàn thể cơ sở và cán bộ dự án phát triển nông thôn ứng dụng các công cụ tham vấn cộng đồng nhằm khơi dậy nguồn lực nội sinh của người nông dân trong các dự án sinh kế.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao huyện Xuân Lộc đạt 19/19 tiêu chí Nông thôn mới nhưng tỷ lệ người dân tham gia giám sát chỉ đạt 19,4%? Thực tế cho thấy thành tích 19/19 tiêu chí được thúc đẩy chủ yếu bởi sự điều hành quyết liệt của chính quyền cấp huyện và nguồn lực hỗ trợ lớn từ ngân sách cấp trên. Đa số người dân cho rằng việc giám sát công trình đã có ban chuyên trách của xã hoặc đơn vị tư vấn độc lập đảm nhiệm (chiếm 75,9%), dẫn đến tâm lý ỷ lại và đứng ngoài hoạt động kiểm tra kỹ thuật.

  • Cơ cấu nguồn vốn đầu tư 12.754,2 tỷ đồng của huyện Xuân Lộc phản ánh điều gì về vai trò của người dân? Số liệu chứng minh người dân giữ vai trò trụ cột trong việc tự tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế gia đình. Trong khi phần vốn đóng góp trực tiếp vào công trình hạ tầng công cộng chỉ đạt 234,4 tỷ đồng (chiếm gần 2%), thì nguồn vốn tích lũy của dân cư và doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào thâm canh sản xuất lên tới 8.101,1 tỷ đồng (chiếm 63,5%).

  • Mô hình Câu lạc bộ Năng suất cao tại Xuân Lộc mang lại bài học kinh nghiệm gì cho chính sách nông nghiệp? Mô hình này chứng minh người nông dân sẽ chủ động tham gia tự nguyện khi nhìn thấy lợi ích kinh tế trực tiếp. Việc thành lập 450 câu lạc bộ với 10.116 thành viên đã giúp thu nhập bình quân đầu người tăng 3,02 lần sau 5 năm, khẳng định chính sách công cần tập trung hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật và liên kết thị trường thay vì chỉ đầu tư cơ sở hạ tầng thuần túy.

  • Huyện Xuân Lộc đã áp dụng biện pháp gì để tiết kiệm 340,93 tỷ đồng trong xây dựng đường giao thông nông thôn? Ủy ban nhân dân huyện đã giao Ban quản lý Dự án và Phòng Kinh tế - Hạ tầng hỗ trợ trực tiếp các xã trong khâu khảo sát, thẩm tra thiết kế và giám sát thi công, giúp giảm 15% chi phí (127,85 tỷ đồng). Đồng thời, việc tối ưu hóa vật liệu tại chỗ và giảm khối lượng đắp nền giúp tiết kiệm thêm 25% chi phí (213,08 tỷ đồng).

  • Làm thế nào để nâng cao tỷ lệ tham gia lập kế hoạch của người dân từ mức 34,3% lên các mức cao hơn? Chính quyền cơ sở cần chuyển đổi hình thức sinh hoạt thôn ấp sang các buổi thảo luận nhóm nhỏ, thay đổi thời gian họp phù hợp với lịch nông nhàn để khắc phục lý do thiếu thời gian của 47,2% hộ dân; đồng thời bắt buộc công khai phương án quy hoạch và trao quyền biểu quyết ngân sách trực tiếp cho người dân.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ nghịch lý phát triển giữa kết quả đạt chuẩn 19/19 tiêu chí Nông thôn mới với mức độ tham gia thực chất suy giảm theo thang đo "biết, bàn, làm, kiểm tra" tại huyện Xuân Lộc.
  • Cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc với 80,6% người dân không tham gia giám sát và 65,7% chưa từng tham gia lập kế hoạch, phản ánh sự thống trị của phương thức quản trị mệnh lệnh hành chính.
  • Khẳng định động lực tự chủ của nông dân thể hiện mạnh mẽ qua 450 Câu lạc bộ Năng suất cao và 8.101,1 tỷ đồng vốn đầu tư sản xuất tư nhân.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp phân cấp ngân sách khối và chuẩn hóa khung pháp lý tham vấn cộng đồng bắt buộc trong lộ trình hoàn thiện thể chế giai đoạn 2026-2030.
  • Các nhà hoạch định chính sách và chính quyền địa phương cần chuyển trọng tâm từ việc chạy theo số lượng chỉ tiêu hành chính sang việc củng cố quyền năng làm chủ thực sự của người nông dân nhằm bảo đảm sự phát triển nông thôn bền vững.