Luận Văn Thạc Sĩ: Sự Phát Triển Quan Điểm Về Cái Phổ Biến Từ Hêghen Đến Mác

Khám phá sự phát triển quan điểm về cái phổ biến từ Hêghen đến Mác trong luận văn thạc sĩ USSH, phân tích sâu sắc và lý thuyết phong phú.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

77
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CÁI PHỔ BIẾN TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC

1.1. Vấn đề cái phổ biến trong triết học tiền cổ điển Đức

1.2. Vấn đề cái phổ biến trong triết học Hêghen

1.3. Cái phổ biến với ý nghĩa là Khái niệm tự quy định vô hạn và tự do

1.4. Cái phổ biến là Ý niệm tuyệt đối

1.5. Những hạn chế của Hêghen trong quan niệm về cái phổ biến

2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ CÁI PHỔ BIẾN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

2.1. Sự vượt bỏ của Mác đối với Hêghen trong vấn đề cái phổ biến

2.2. Vấn đề cái phổ biến với tư cách là phạm trù của lôgíc biện chứng

2.3. Cái phổ biến trong “Tư bản” với ý nghĩa là sự thống nhất cụ thể của các định nghĩa đối lập

2.4. Sự vận động hiện thực của cái phổ biến. Cách tiếp cận của Mác đối với vấn đề lao động

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sự Phát Triển Quan Điểm Cái Phổ Biến

Sự phát triển quan điểm về cái phổ biến từ Hêghen đến Mác là một hành trình triết học quan trọng. Hêghen đã đặt nền móng cho việc hiểu biết về cái phổ biến trong triết học cổ điển Đức. Ông xem cái phổ biến như là một khái niệm tự quy định vô hạn và tự do. Tuy nhiên, quan điểm của Hêghen cũng gặp phải những hạn chế nhất định. Mác đã tiếp thu và phát triển quan điểm này, đưa ra những cách hiểu mới mẻ hơn về cái phổ biến trong bối cảnh kinh tế và xã hội. Sự chuyển biến này không chỉ là một bước tiến trong triết học mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc hiểu biết về thực tiễn xã hội.

1.1. Hêghen Và Quan Điểm Về Cái Phổ Biến

Hêghen đã định nghĩa cái phổ biến như là một khái niệm trung tâm trong triết học của ông. Ông cho rằng cái phổ biến không chỉ là sự tổng hợp của các đặc điểm mà còn là sự tự quy định của ý niệm. Tuy nhiên, quan điểm này cũng bị chỉ trích vì tính chất duy tâm và thiếu sự gắn kết với thực tiễn.

1.2. Mác Và Sự Phát Triển Quan Điểm Cái Phổ Biến

Mác đã phê phán quan điểm của Hêghen và đưa ra một cách tiếp cận duy vật hơn. Ông cho rằng cái phổ biến phải được hiểu trong bối cảnh của các mối quan hệ xã hội và kinh tế. Điều này giúp làm rõ hơn sự vận động của cái phổ biến trong thực tiễn.

II. Vấn Đề Cái Phổ Biến Trong Triết Học Tiền Cổ Điển Đức

Trước khi Hêghen, cái phổ biến đã được xem xét chủ yếu dưới góc độ bản thể luận. Các nhà triết học như Platôn và Arixtốt đã có những quan điểm khác nhau về cái phổ biến. Platôn coi cái phổ biến là ý niệm, trong khi Arixtốt nhấn mạnh sự tồn tại của cái phổ biến trong bản thân sự vật. Những quan điểm này đã đặt nền tảng cho sự phát triển của triết học sau này.

2.1. Quan Điểm Của Platôn Về Cái Phổ Biến

Platôn đã đồng nhất cái phổ biến với ý niệm, cho rằng cái phổ biến có trước cái đơn nhất. Ông cho rằng cái phổ biến là bản chất siêu cảm tính, quy định mọi biểu hiện của thế giới cảm tính.

2.2. Quan Điểm Của Arixtốt Về Cái Phổ Biến

Arixtốt đã phê phán Platôn và cho rằng cái phổ biến nằm trong chính bản thân sự vật. Ông nhấn mạnh rằng cái phổ biến không chỉ là bản chất bất biến mà còn có sự vận động và biến đổi.

III. Hêghen Và Cái Phổ Biến Khái Niệm Tự Quy Định

Hêghen đã phát triển khái niệm cái phổ biến như một phần của lôgíc biện chứng. Ông cho rằng cái phổ biến là một khái niệm tự quy định vô hạn, có khả năng tự phát triển và tự do. Tuy nhiên, quan điểm này cũng gặp phải những chỉ trích về tính duy tâm và thiếu sự gắn kết với thực tiễn.

3.1. Cái Phổ Biến Như Khái Niệm Tự Quy Định

Hêghen xem cái phổ biến như là một khái niệm tự quy định, có khả năng tự phát triển. Điều này cho thấy sự phức tạp trong cách hiểu về cái phổ biến trong triết học của ông.

3.2. Những Hạn Chế Trong Quan Điểm Của Hêghen

Mặc dù Hêghen đã có những đóng góp quan trọng, nhưng quan điểm của ông cũng bị chỉ trích vì tính chất duy tâm và thiếu sự gắn kết với thực tiễn xã hội.

IV. Mác Và Sự Vận Dụng Cái Phổ Biến Trong Tư Bản

Mác đã tiếp thu và phát triển quan điểm của Hêghen về cái phổ biến, nhưng trong bối cảnh kinh tế và xã hội. Ông đã sử dụng khái niệm cái phổ biến để phân tích các vấn đề kinh tế trong tác phẩm 'Tư bản'. Điều này giúp làm rõ hơn sự vận động của cái phổ biến trong thực tiễn.

4.1. Cái Phổ Biến Trong Tác Phẩm Tư Bản

Trong 'Tư bản', Mác đã sử dụng khái niệm cái phổ biến để phân tích sự phát triển của các hình thái giá trị và lao động. Điều này cho thấy sự gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn trong quan điểm của ông.

4.2. Sự Thống Nhất Của Các Định Nghĩa Đối Lập

Mác đã chỉ ra rằng cái phổ biến không chỉ là sự tổng hợp của các đặc điểm mà còn là sự thống nhất cụ thể của các định nghĩa đối lập. Điều này giúp làm rõ hơn sự vận động của cái phổ biến trong thực tiễn.

V. Kết Luận Tương Lai Của Quan Điểm Về Cái Phổ Biến

Sự phát triển quan điểm về cái phổ biến từ Hêghen đến Mác không chỉ là một hành trình triết học mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc hiểu biết về thực tiễn xã hội. Các nhà triết học hiện đại tiếp tục phát triển quan điểm này, khai thác các di sản lý luận của Hêghen và Mác để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Cái Phổ Biến

Các nhà triết học hiện đại đang tiếp tục nghiên cứu và phát triển quan điểm về cái phổ biến, nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Ý Nghĩa Của Cái Phổ Biến Trong Thực Tiễn

Cái phổ biến không chỉ là một khái niệm triết học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc hiểu biết về các mối quan hệ xã hội và kinh tế. Điều này giúp làm rõ hơn sự vận động của cái phổ biến trong thực tiễn.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh sự phát triển quan điểm về cái phổ biến từ hêghen đến mác

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề về tính phức tạp của bản chất chứng tỏ, ở Arixtốt, cái phổ biến được xét không chỉ như thực thể bất động mà có sự vận động, trải qua nhiều thang bậc khác nhau. “Nguyên tắc sinh thành ở Arixtốt cũng là nguyên tắc phổ biến vì nó bao trùm lên cả thế giới cảm tính lẫn thế giới eidos trong đó tính biến đổi thể hiện với tư cách sự sinh thành”[5, 123]. Tuy nhiên, vấn đề vẫn chỉ lấp ló trong dự định, do đó chỉ thể hiện như “là nhu cầu, là sự cố gắng tìm tòi, là sự đến gần với lô-gích của Hê-ghen”[8, 391] mà thôi.Bêcơn (1561-1621) kế thừa quan điểm hình dạng của Arixtốt. Ông xem xét hình dạng không chỉ là hình thể không gian của sự vật mà còn là “bản chất của sự vật “tự nhiên””[14, 221].

Bêcơn chia vận động của vật chất thành 19 dạng tương ứng với từng cấp độ cấu trúc vật chất. Đồng thời, các hình dạng cũng được phân thành hình dạng đơn giản và hình dạng phức tạp một cách tương ứng. Các hình dạng đơn giản tương ứng với trình độ của đối tượng ở mức độ cảm tính, còn hình dạng phức tạp thì chỉ có thể được rút ra từ tổng số các hình dạng đơn giản nhờ phương pháp quy nạp. Nhờ phương pháp đó mà chuyển từ các hình dạng kém chung sang các hình dạng chung hơn, để cuối cùng quy về hình dạng cao nhất.

Có thể nhận thấy thực chất của việc rút ra các hình dạng phức tạp như thế chỉ là nhờ so sánh các hình dạng riêng bằng cách liệt kê nhiều lần và loại trừ. Mặc dù các tính chất của vật chất mà Bêcơn nêu ra là đa dạng, nhưng xét đến cùng, đều là các thuộc tính được ghi nhận một cách cảm tính, còn các dạng vận động “nhìn chung đều quy về vận động cơ học”[14, 221]. Nói cách khác, vật chất ở Bêcơn chỉ được xem xét trong giới hạn cảm tính, chính vì vậy mà T.Hốpxơ (1588-1679) về sau đã quy tất cả các dạng vận động ở Bêcơn về 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vận động cơ học hoặc toán học và các tính chất của vật chất về tính chất không-thời gian. Tương ứng thì sự khác biệt giữa các tính chất cơ học của vật chất và các loại hình dạng cũng chỉ là sự khác biệt bên ngoài, vì sự khác biệt như thế không thể phát triển thành đối lập và mâu thuẫn mà chỉ dừng lại ở sự khác nhau giản đơn.

Bản chất (hình dạng) ở Bêcơn không có sự khác biệt bên trong mà chỉ ghi lại những tính chất cơ học của vật chất, hơn nữa, những giới hạn này cũng chỉ là tương đối vì được đem lại trong trực quan nên không ngừng mở rộng cùng với sự mở rộng của kinh nghiệm cảm tính. Do vậy, cái phổ biến ở Bêcơn vẫn chỉ là cái phổ biến trừu tượng, chỉ là bản chất giản đơn trùng ngay với những hình thức biểu hiện trực tiếp bên ngoài của nó.Xpinôda (1632-1677) xuất phát từ nguyên tắc nhất nguyên về một thực thể đã đồng nhất cái phổ biến với Thượng đế, với tự nhiên và thực thể. Ông hiểu thực thể là cái phổ biến chứa đựng vô số các đặc tính, trong đó mỗi đặc tính đều biểu thị bản chất vĩnh hằng và vô hạn của cái phổ biến mà hai đặc tính quan trọng nhất của nó là quảng tính và tư duy. Thực thể được xác định như là cái tồn tại tự nó và tự biểu lộ.Đềcáctơ (1596-1654) phân ra hai thực thể không gắn với nhau đó là vật chất như thực thể quảng tính và tư duy như thực thể tinh thần thì Xpinôda đã gộp cả tư duy và quảng tính về một thực thể là tự nhiên và xem xét chúng như hai thuộc tính không tách rời nhau.

Ở Xpinôda, tư duy được nâng lên là “hành động được thực hiện một cách không gian bởi thể xác thiên nhiên”[6, 60] nên tư duy không hẳn là chỉ thuộc về từng sự vật đơn nhất riêng lẻ, mà chủ yếu thuộc về tổng thể của chúng. Thực thể tư duy và thực thể có quảng tính thực chất là hai thuộc tính của cùng một thực thể, chỉ có điều nó được hiểu khi thì dưới đặc tính này, khi thì dưới đặc tính khác. Thực thể có mặt một cách trực tiếp trong các đặc tính của nó, diễn tả chính mình một cách tĩnh lặng trong cái toàn thể đang vận động của các đặc tính, toàn thể hóa các đặc tính theo nghĩa là tự khai mở, tự 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu lộ nơi chúng như là tính phủ định tuyệt đối, vô hạn của chúng. Thực thể không chỉ tự khai mở trong các đặc tính như là sức mạnh tuyệt đối mà còn tự bộc lộ như là sự phong phú của toàn bộ nội dung đặc tính khi triển khai.

Ở Xpinôda, sự tiêu biến của các đặc tính chính là bản thân tính thực thể của chúng, vì chỉ có việc phủ định tính khẳng định trực tiếp của các đặc tính thì sức mạnh phủ định của thực thể mới tự hoàn tất một cách khẳng định và tự xác định chính mình như là nội dung phong phú của đặc tính mà nó tiếp thu. Đối với Xpinôda thì trật tự và mối liên hệ giữa các tư tưởng cũng là trật tự và mối liên hệ giữa các sự vật. Các thuộc tính tạo thành bản chất của thực thể, và bản chất thì cần phải hiện thực hóa sự vận động của nó ra bên ngoài. Nhưng ở Xpinôda, không có sự phân chia của thực thể thành các mặt đối lập và mâu thuẫn, nên trong chừng mực đó thực thể vẫn là bản chất bất động, không hoạt động, không phát triển.

Do vậy, sự khác nhau giữa tư duy và quảng tính vẫn chỉ là sự khác biệt bên ngoài, vì quan hệ bên trong của chúng không có tính phủ định biện chứng. Thực thể, với tư cách là quyền lực phổ biến của sự phủ định, “hầu như chỉ là một hố thẳm đen ngòm, không có hình thái, nuốt chửng mọi nội dung xác định như là những gì tuyệt đối vô hiệu và không sản sinh ra được từ chính mình bất kỳ cái gì có một sự bền vững tự tồn khẳng định nơi chính mình cả”[2, 449]. Thực thể là thực tại phổ biến duy nhất, còn thế giới của những đối tượng đơn nhất hữu hạn thì không có tính thực tại và tính hiện thực tuyệt đối, không có năng lực độc lập tự tồn, hoàn toàn bị động và bị thống trị bởi quyền lực của sự phủ định có sức mạnh ghê gớm. Do đó thực thể ở Xpinôda, theo nhận định của Hêghen, mới chỉ là cái “tự mình” một cách mặc nhiên, tiềm năng chứ chưa phải chủ thể tự do “biểu lộ”, tự do “khai mở” chính mình trong cái khác của mình.

Lépnít (1646-1716) cũng xem Chúa như thực thể thống nhất, nhưng xuất phát từ nguyên tắc đa nguyên, đa dạng của thực thể, ông đưa ra khái niệm “đơn tử”. Các đơn tử là các đơn vị cấu thành nên thế giới, chúng là đa dạng vì ngoài những thuộc tính chung, chúng có những thuộc tính riêng khác 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thuộc tính quan trọng nhất hay bản chất đầu tiên của đơn tử là năng lực trực giác vô thức. Trực giác vô thức luôn có xu hướng hướng tới sự toàn vẹn, được gắn cho cả các các sự vật tồn tại bên ngoài con người, do vậy, nó được hiểu tương tự như nguyên nhân mục đích ở Arixtốt.

Đơn tử là “thực thể toàn vẹn, không phân chia được và không có quảng tính, không trải qua quá trình ra đời và tiêu vong thông thường, chỉ ra đời cùng lúc với sự sáng tạo”[5, 303]. Xét ở góc độ bản thể luận, các đơn tử chính là những bản chất thuần túy được lồng ghép vào các sự vật, tạo ra sự đa dạng của chúng, là “những bản chất được “nhồi nhét” vào những vật thể tự nhiên và có can hệ với tính đa dạng của chúng, với những biểu hiện và biến đổi độc đáo của chúng”[5, 304] Đơn tử là cái phổ biến ở góc độ nó là thực thể, chứa đựng những thuộc tính đa dạng, cấu thành cả bản chất của các vật thể tự nhiên và linh hồn con người, bản ngã đạo đức cũng như nguồn gốc của sự biến đổi, chứa đựng những trực giác vô thức là cội nguồn ý thức của con người. Ở Lépnít, các đơn tử không phải các thực thể vật chất mà là các thực thể tinh thần riêng biệt. Các thực thể tinh thần này có năng lực trực giác vô thức, tương tự như ý niệm bẩm sinh kiểu Đềcáctơ.

Năng lực này biểu hiện như “khát vọng” hay nguyên nhân mục đích do đó không chỉ tồn tại ở ý thức con người mà cả trong các sự vật tự nhiên. Theo Lépnít, những người kế tục Đềcáctơ đã sai lầm khi không gắn ý niệm bẩm sinh cho các sự vật tự nhiên. Lépnít quan niệm vũ trụ được tạo thành bởi các đơn tử, trong đó, Thượng đế là đơn tử tối cao, là cơ sở cho mối liên hệ hài hòa tiền định của các đơn tử cá biệt. Như vậy, chủ nghĩa duy lý cận đại đã đem lại một cách lý giải triệt để hơn so với chủ nghĩa duy vật cổ đại trong vấn đề cái phổ biến.

Cái phổ biến còn được hiểu là nguyên nhân tự thân hay nguyên nhân cuối cùng, chẳng hạn như Chúa, đơn tử. Tuy nhiên, cái phổ biến ở giai đoạn này cũng chỉ đạt đến trình độ là thực thể. Nói cách khác, cái phổ biến mới chỉ là “thực thể - khách thể” mà chưa được xét như là “thực thể - chủ thể”. Giữa cái phổ biến và cái đặc thù chưa thực sự có tính phủ định biện chứng.

Cái phổ biến chỉ được xem 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như cơ sở phi nội dung của tồn tại mà chưa có tính tích cực. Ở thực thể, với tư cách là bản chất, vẫn chưa có sự phân chia thành các mặt đối lập và mâu thuẫn, và chừng nào chưa chứa đựng mâu thuẫn thực sự thì thực thể vẫn mãi mãi là bản chất bất động, chưa tự thân vận động, tự thân triển khai như là chủ thể, điều mà sau này chỉ có triết học biện chứng cổ điển Đức mới mang lại. Vấn đề cái phổ biến trong triết học Hêghen 1. Cái phổ biến với ý nghĩa là Khái niệm tự quy định vô hạn và tự do G.Hêghen (1770 - 1831) trên cơ sở kế thừa có phê phán triết học đồng nhất của Senlinh (1775 - 1854) đã xây dựng một hệ thống triết học bao chứa mọi tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sự Phát Triển Quan Điểm Về Cái Phổ Biến Từ Hêghen Đến Mác" khám phá sự tiến hóa của quan điểm triết học từ Hêghen đến Mác, nhấn mạnh tầm quan trọng của cái phổ biến trong việc hiểu biết về sự phát triển của triết học duy vật biện chứng. Tác phẩm này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khái niệm triết học mà còn giúp người đọc nhận thức rõ hơn về mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn trong xã hội.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quan điểm của v i lênin về phép biện chứng trong tác phẩm bút ký triết học và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển phép biện chứng duy vật, nơi phân tích sâu hơn về phép biện chứng trong triết học. Ngoài ra, tài liệu Chuong 2 cndvbc 2 triết sẽ giúp bạn khám phá thêm về chủ nghĩa duy vật biện chứng và mối liên hệ của nó với vật chất và ý thức. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ ussh tư tưởng biện chứng trong triết học của platon, để có cái nhìn so sánh về tư tưởng biện chứng trong triết học cổ điển. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào các khía cạnh khác nhau của triết học và phát triển tư duy của mình.