phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có hai chƣơng và sáu tiết. Tổng quan tài liệu Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và của V. Lênin là lĩnh vự đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Các nghiên cứu này đƣợc các tác giả trình bày dƣới dạng các đề tài khoa học, các luận văn, luận án, sách, tạp chí… và dƣới nhiều góc độ khác nhau dựa trên các mục tiêu nghiên cứu.
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiếp cận các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài đƣợc phân thành các nhóm sau đây: Luan van 4 + Nhóm các đề tài và sách nghiên cứu dưới góc độ lịch sử phép biện chứng và phép biện chứng duy vật. - Luận văn thạc sỹ triết học của Nguyễn Thành Chung, Phép biện chứng duy vật với việc khắc phục những sai lầm trong tư duy ở nước ta hiện nay, năm 2004. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã trình bày các vấn đề nghiên cứu lý luận nhƣ: lịch sử phép biện chứng, vai trò phép biện chứng duy vật trong việc khắc phục sai lầm trong tƣ duy ở nƣớc ta, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần đổi mới ở nƣớc ta hiện nay. - Cuốn sách: Lịch sử phép biện chứng mácxít (Giai đoạn V.
Lênin), NXB Tiến bộ Mát-xcơ-va, năm 1987. - Cuốn sách: Lịch sử phép biện chứng mácxít (Từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác đến giai đoạn V. Lênin), NXB Tiến bộ Mát-xcơ-va, năm 1986. - Cuốn sách: Lịch sử phép biện chứng - phép biện chứng cổ đại, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.Viện triết học.
NXB CTQG, Hà Nội, năm 1998. - Cuốn sách: Lịch sử phép biện chứng - phép biện chứng thế kỷ XIV- XVIII, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.Viện triết học. NXB CTQG, Hà Nội, năm 1998. - Cuốn sách: Lịch sử phép biện chứng - phép biện chứng cổ điển Đức, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.
Viện triết học. NXB CTQG, Hà Nội, năm 1998. - Cuốn sách: Lịch sử triết học, GS. Nguyễn Hữu Vui, NXB CTQG, năm 2007.
- Cuốn sách: Lịch sử triết học phương Tây, PGS. Bùi Đăng Duy, PGS. Nguyễn Tiến Dũng, NXB Tổng hợp HCM, năm 2005. - Cuốn sách: Văn tuyển tư liệu lịch sử triết học thế giới, (4 tập), NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, năm 1969.
- Cuốn sách: Lịch sử triết học Tây phương, (3 tập), Lê Tôn Nghiêm, Luan van 5 NXB TP. Hồ Chí Minh, năm 2004. + Nhóm các sách nghiên cứu dưới góc độ tác phẩm Bút ký triết học của V. Lênin Toàn tập, tập 29, NXB Tiến bộ Mát-xcơ-va, năm 1981.
Lênin, Bút ký triết học, NXB CTQG Hà Nội, năm 2004. - Vấn đề triết học trong các tác phẩm của C. Doãn Chính - PGS. Đinh Ngọc Thạch, NXB CTQG, Hà Nội, năm 2008.
- Triết học mở và xã hội mở, Maurice Cornforth, NXB Khoa học xã hội, năm 2002. - Chủ nghĩa Mác – Lênin - Học thuyết về sự phát triển và sáng tạo không ngừng, GS. Trần Nhâm, NXB CTQG Hà Nội, năm 2011. + Nhóm các tạp chí nghiên cứu dưới góc độ vai trò của phép biện chứng duy vật với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
- Lê Hữu Nghĩa, Tư duy biện chứng trong sự kết hợp giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Tạp chí Triết học, số 6, năm 2013, tr. - Chu Văn Tuấn, Văn kiện Đại hội XI của Đảng và một số vấn đề lý luận về định hướng chính trị đối với sự phát triển xã hội, Tạp chí Triết học, số 1, năm 2013, tr. - Phạm Văn Đức, Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội nhìn từ biện chứng của sự tiến hóa lịch sử, một số đặc trưng của kinh tế thị rường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí Triết học, số 7, năm 2013, tr. - Trần Thành, Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 10, năm 2012, tr.
Luan van 6 - Vũ Văn Viên, Thực chất của định hướng chính trị đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, số 12, năm 2012. - Bùi Thị Thanh Hƣơng, Góp thêm mấy ý kiến về phép biện chứng duy vật, Tạp chí Triết học, số 5, năm 2013. - Hoàng Đức Thân, Gắn kết tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, số 809, năm 2010. Những đề tài nghiên cứu trên đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc tác phẩm Bút ký triết học của V.
Lênin, lịch sử phép biện chứng, vị trí và vai trò của phép biện chứng duy vật, là tài liệu tham khảo của luận văn. Tuy nhiên, qua khảo sát các công trình này cho thấy, dƣới góc độ lý luận và thực tiễn, hiện chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề: Quan điểm của V. Lênin về phép biện chứng trong tác phẩm Bút ký triết học và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển phép biện chứng duy vật. Luan van 7 CHƢƠNG 1 QUAN ĐIỂM VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG CỦA V.
LÊNIN TRONG TÁC PHẨM BÚT KÝ TRIẾT HỌC 1. HOÀN CẢNH RA ĐỜI TÁC PHẨM BÚT KÝ TRIẾT HỌC Tác phẩm Bút ký triết học đƣợc tập hợp từ các bản ghi chép của V. Lênin trong những năm 1915-1916. Bút ký triết học không phải là tác phẩm hoàn chỉnh, V.
Lênin cũng không có ý định xuất bản. Lênin tự giải thích các vấn đề khác nhau cho bản thân mình. Tác phẩm gồm những bản tóm tắt các cuốn sách, những ghi chú, những nhận xét, những tƣ tƣởng riêng biệt khi đọc các công trình về triết học và các công trình khoa học tự nhiên khác nhau. Vào những năm đầu thế kỷ XX, triết học Mác bị công kích từ phía các thủ lĩnh quốc tế II, những đại diện của chủ nghĩa cơ hội thuộc mọi khuynh hƣớng.
Bécxtanh phủ nhận sự cần thiết của phép biện chứng duy vật trong việc phân tích các hiện tƣợng xã hội, không thừa nhận học thuyết mácxít về vai trò quyết định của quan hệ sản xuất trong đời sống xã hội. Cauxky thì đánh đồng phép biện chứng với ngụy biện và chiết trung. Các đảng thuộc Quốc tế II dần dần biến thành các đảng cải lƣơng, bám rể vào hệ thống chính trị của xã hội phƣơng Tây đƣơng thời. Trong những năm của chiến tranh thế giới thứ nhất, các thủ lĩnh của phái cơ hội đã xa rời chủ nghĩa Mác, hƣớng phong trào công nhân đến chổ thỏa hiệp với các lực lƣợng đang cầm quyền.
Những ngƣời cơ hội phản đối chiến tranh đế quốc, nhƣng cũng không chấp nhận cách mạng xã hội, vì theo họ cách mạng là sự thể nghiệm trên con ngƣời các dự án của tƣ tƣởng, mà điều này hoàn toàn phi nhân tính. Thay vì cách mạng, họ kêu gọi cải cách, và coi những thay đổi tiệm tiến, dần dần là đặc điểm của vận động xã hội. Mặt khác, đầu thế kỷ XX, do sự phát triển không đều của chủ nghĩa tƣ Luan van 8 bản ở châu Âu, mà trung tâm cách mạng đã chuyển từ Tây Âu sang nƣớc Nga. Nƣớc Nga dƣới chế độ Sa hoàng thực hành sự cai trị hà khắc với đƣờng lối chính trị phản động đã dẫn đến những cuộc khởi nghĩa của nông nô và xuất hiện các trào lƣu tƣ tƣởng tiến bộ của các nhà dân chủ Nga.
Trong nội bộ phong trào công nhân Nga, cuộc chiến tranh về lý luận diễn ra gay gắt. Lúc đó có hai khuynh hƣớng tƣ tƣởng nổi lên đó là tả khuynh và hữu khuynh. Khuynh hƣớng tả khuynh nhấn mạnh bạo lực chính trị vô điều kiện, thực chất là khủng bố. Khuynh hƣớng hữu khuynh đƣợc những ngƣời mensêvích tán thành, tìm kiếm phƣơng hƣớng ôn hòa cho các thay đổi xã hội.
Cả hai khuynh hƣớng đều giải thích bản chất phép biện chứng mácxít và chủ nghĩa duy vật lịch sử một cách sai lệch, truyền bá các phƣơng án khác nhau hoặc của thuyết “cân bằng xã hội”, điều hòa các quan hệ giai cấp, hoặc khuynh hƣớng duy ý chí, lý giải một cách duy tâm, chủ quan diễn biến của qúa trình lịch sử. Trong giai đoạn của những chuyển biến phức tạp, việc xác lập một cách tiếp cận biện chứng về thế giới, giới tự nhiên, thực tiễn xã hội và quá trình tƣ duy mang ý nghĩa hàng đầu. Những ngƣời mácxít phải tỉnh táo đánh giá vấn đề, bám sát vào các chuyển biến chính trị, xã hội, đồng thời nắm bắt nhanh chóng các khuynh hƣớng vận động của xã hội, phân tích các thành quả mới nhất của khoa học, các trào lƣu triết học, hiểu đƣợc trình độ nhận thức chung của xã hội, từ đó xác định các vấn đề lý luận và thực tiễn cốt lõi nhất. Lênin chú trọng đến việc xác lập quan điểm biện chứng về những hiện tƣợng mới, tổng kết kinh nghiệm của cuộc đấu tranh cách mạng, khám phá các quy luật và động lực mới, đẩy nhanh quá trình cải tạo cách mạng đối với xã hội trên những nguyên tắc khoa học mácxít.
Lênin cho rằng, trong thời điểm cấp bách này, nếu các nhà lý luận gia của giai cấp vô sản im lặng hoặc dừng lại là phản bội chủ nghĩa Mác. Vì thế nhiệm vụ quan trọng nhất là Luan van 9 khẳng định phép biện chứng duy vật bằng nền tảng khoa học tự nhiên đƣơng đại và lịch sử phép biện chứng mà đỉnh cao nhất trƣớc C. Mác là phép biện chứng của Hêghen. Mục đích tối cao của Bút ký triết học là bảo vệ và phát triển phép biện chứng duy vật của C.
Ăngghen, chống lại mọi xu hƣớng tƣ tƣởng hoặc là xuyên tạc, hoặc là đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Lênin định viết một tác phẩm triết học về vấn đề này nhƣng chƣa kịp hoàn thành. Lênin chỉ để lại cho chúng ta Tập bút ký, mà ngày nay tập hợp lại xuất bản thành sách với tên gọi Bút ký triết học gồm 3 phần lớn. Tác phẩm Bút ký triết học lần đầu tiên xuất bản vào năm 1929-1930 và sau đó đƣợc bổ sung và hoàn thiện dần.
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM BÚT KÝ TRIẾT HỌC 1. Phép biện chứng với tính cách là khoa học về sự phát triển Phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự kế thừa có chọn lọc phép biện chứng duy tâm của Hêghen và cải tạo nó thành phép biện chứng duy vật. Hêghen trình bày phép biện chứng trong tác phẩm Khoa học lôgíc.