Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương với đề tài "Stress ở cha mẹ của trẻ có rối loạn phổ tự kỷ" được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Lệ Thu và PGS.TS Phan Thị Mai Hương (Mã số chuyên ngành: 9.01).

Về tính cấp thiết, stress là hiện tượng phổ biến trong các ngành khoa học hành vi và sức khỏe (Papathanasiou và cộng sự, 2015). Khi vượt quá ngưỡng chịu đựng, stress gây tổn hại nghiêm trọng về thể chất, tâm lý và cảm xúc, trở thành stress có hại hay distress (Fricchione và cộng sự, 2016). Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là nhóm rối loạn phức tạp trong sự phát triển não bộ, đặc trưng bởi các thiếu hụt về tương tác xã hội, giao tiếp và hành vi định hình lặp lại. Những khó khăn này tạo áp lực chăm sóc kéo dài cho gia đình, đặc biệt là cha mẹ (Sander và cộng sự, 2010; Trần Văn Công, 2013). Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra người mẹ có con RLPTK có nguy cơ bị distress cao gấp bốn lần so với mẹ của trẻ phát triển bình thường và gấp đôi so với mẹ của trẻ chậm phát triển (Silva và Schalock, 2012; Estes và cộng sự, 2009). Tại Việt Nam, RLPTK mới được quan tâm sâu khoảng 20 năm trở lại đây, các công trình chủ yếu tập trung vào chẩn đoán, can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập, trong khi mảng nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng stress, tác nhân và can thiệp giảm stress cho cha mẹ trẻ RLPTK vẫn còn khoảng trống lớn về lý luận và thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng stress ở cha mẹ của trẻ có RLPTK, trên cơ sở đó thực nghiệm liệu pháp can thiệp tâm lý nhằm giảm thiểu stress có hại ở nhóm khách thể này.

Các câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:

  1. Cha mẹ của trẻ có RLPTK có bị stress có hại không?
  2. Nếu có thì mức độ và biểu hiện stress có hại ở cha mẹ trẻ được thể hiện như thế nào?
  3. Những yếu tố nào tác động đến tình trạng stress ở cha mẹ trẻ RLPTK?
  4. Ứng phó với stress ở cha mẹ trẻ RLPTK như thế nào và có liên quan ra sao đến tình trạng stress?
  5. Liệu pháp tâm lý có thể hỗ trợ làm giảm stress của cha mẹ không?

Hệ thống giả thuyết khoa học của luận án bao gồm:

  1. Đa số cha mẹ của trẻ RLPTK trong nhóm mẫu bị stress có hại; stress có hại xuất hiện không đồng nhất ở cha mẹ trẻ RLPTK giữa các mặt biểu hiện: thực thể, nhận thức, cảm xúc, hành vi.
  2. Các yếu tố chính có liên quan đến stress có hại ở cha mẹ trẻ RLPTK gồm: (1) Các vấn đề liên quan đến RLPTK của con, (2) Đặc điểm nhân khẩu - xã hội, (3) Giới tính và thứ tự sinh của trẻ RLPTK, (4) Kiến thức - kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ RLPTK của cha mẹ, (5) Sự hỗ trợ của gia đình đối với cha mẹ trong cuộc sống và đặc biệt là trong giáo dục trẻ RLPTK.
  3. Cách ứng phó với stress có hại ở cha mẹ trẻ RLPTK có liên quan với tình trạng stress có hại ở họ.
  4. Có thể giúp các cha mẹ trẻ RLPTK giảm thiểu stress có hại thông qua tham vấn tâm lý sử dụng liệu pháp hành vi xúc cảm hợp lý (REBT) của Albert Ellis.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định đối tượng là biểu hiện stress của cha mẹ trẻ RLPTK ở các khía cạnh: thực thể, nhận thức, cảm xúc, hành vi; mối quan hệ giữa stress ở cha mẹ với các vấn đề ở trẻ RLPTK và các yếu tố từ chính cha mẹ cũng như từ đặc điểm nhân khẩu - xã hội; cách ứng phó với stress có hại ở cha mẹ của trẻ RLPTK. Khách thể khảo sát gồm 209 cha/mẹ có con RLPTK ở độ tuổi can thiệp sớm.

Về phạm vi không gian, nghiên cứu được triển khai tại 10 cơ sở chẩn đoán, can thiệp hòa nhập, bán hòa nhập và chuyên biệt trên địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh và Ninh Bình (Trung tâm Sao Biển thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khánh Tâm, Gia An, Nắng Mai, Ánh Sao, Akira, Tương Lai Mới tại Hà Nội; Trung tâm Ước Mơ tại Bắc Ninh; Trung tâm Thiên Thần Nhỏ tại Ninh Bình). Về nội dung, nghiên cứu giới hạn ở các đánh giá chủ quan của cha mẹ về biểu hiện stress có hại, tác nhân liên quan, cách ứng phó và thực nghiệm liệu pháp REBT.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo bốn hướng nghiên cứu chính:

Hướng thứ nhất: Biểu hiện và mức độ stress ở cha mẹ của trẻ có RLPTK. Các nghiên cứu quốc tế đã đối chứng mức độ stress giữa các nhóm phụ huynh. Krauss (1993) phát hiện sự khác biệt giữa cha và mẹ trẻ khuyết tật, trong đó stress ở người cha có xu hướng cao hơn ở mẹ. Ngược lại, Moes và cộng sự (1992) ghi nhận người mẹ chịu mức stress cao hơn người cha trong việc nuôi dưỡng trẻ; trong khi Hastings (2003) và Noh và cộng sự (1989) nhận thấy mức độ stress ở cha và mẹ là tương đương. Phụ huynh có con RLPTK báo cáo mức độ lo âu cao (Stein và cộng sự, 2011; Kuusikko-Gauffin và cộng sự, 2013; Falk và cộng sự, 2014), trầm cảm cao (Hayes và Watson, 2013; Zablotsky và cộng sự, 2013) và mức độ thỏa mãn hôn nhân thấp hơn so với cha mẹ có con phát triển bình thường hoặc con mắc hội chứng Down (Dabrowska và Pisula, 2010; Estes và cộng sự, 2013; Baker và cộng sự, 2002; Sanders và Morgan, 1997). Triệu chứng tự kỷ ở trẻ càng nghiêm trọng thì stress của cha mẹ càng tăng (E. Dunn và cộng sự, 2001). Attfield và Morgan (2006) nêu khái niệm "sự thăng trầm về cảm xúc của cha mẹ" (parental emotional rollercoaster). Plimley và cộng sự (2007) chỉ ra việc nhận chẩn đoán tự kỷ tương tự như trải nghiệm mất mát (bereavement), phân lập thành sáu mô hình phản ứng cảm xúc khi đón nhận chẩn đoán.

Hướng thứ hai: Các tác nhân dẫn đến stress ở cha mẹ. Nhóm tác nhân từ trẻ gồm sự suy giảm nhận thức, ngôn ngữ và khiếm khuyết tương tác xã hội (Bebko và cộng sự, 1987; Davis và Carter, 2008), các hành vi vấn đề (Dumas và cộng sự, 1991; Baker và cộng sự, 2002). Piven và cộng sự (1997) cùng Murphy và cộng sự (2000) đề cập đến kiểu hình phổ tự kỷ mở rộng (Broader Autism Phenotype - BAP) ở cha mẹ như một nhân tố làm tăng nguy cơ tổn thương tâm lý. Về mô hình lý thuyết, Abidin (1995) xây dựng mô hình stress làm cha mẹ với ba nguồn tác nhân: đặc tính của trẻ, đặc tính của cha mẹ và tương tác giữa cha mẹ với trẻ. Holmes và Rahe (1967, 1974) tiếp cận stress từ 43 sự kiện đời sống làm biến đổi cuộc sống cá nhân thông qua thang đo thích ứng xã hội SRRS. McCubbin và Patterson (1983) đưa ra mô hình stress gia đình ABCX và ABCX kép nhằm giải thích tương tác giữa sự kiện gây stress, nguồn lực gia đình, nhận thức và mức độ khủng hoảng.

Hướng thứ ba: Cách thức ứng phó với stress có hại. Dunleavy và cộng sự (2010) khảo sát các chiến lược tập trung giải pháp, cảm xúc, xã hội và né tránh. Kossakowska và Pisula (2010) chỉ ra mức độ gắn kết tương quan thuận với tìm kiếm hỗ trợ xã hội và tự kiểm soát. Miranda và cộng sự (2019) nhấn mạnh vai trò trung gian của khó khăn hành vi và sự tham gia ứng phó. Iida và cộng sự (2018) nhận thấy cha mẹ trẻ RLPTK sử dụng chiến lược né tránh chủ động và ứng phó thụ động thường xuyên hơn cha mẹ trẻ bình thường. Catalano và cộng sự (2018) qua tổng hợp giải thích quan trọng (CIS) đã chỉ ra các can thiệp nhận thức hành vi, chánh niệm, thư giãn cơ và nhóm hỗ trợ đồng đẳng giúp tăng cảm giác kiểm soát bản thân, giảm cô lập xã hội. Folkman và Moskowitz (2000) cùng Fredrickson (1998) khẳng định vai trò của cảm xúc tích cực trong việc thích ứng và mở rộng nguồn lực đối phó.

Hướng thứ tư: Biện pháp can thiệp tâm lý giảm stress. Các nghiên cứu khẳng định việc thay đổi đánh giá nhận thức có thể giảm phản ứng stress (Lazarus và Alfert, 1964; Lazarus, 1993a, 1993b). Hệ thống hỗ trợ xã hội đóng vai trò trung gian điều chỉnh (Bristol và Schopler, 1983; Gill và Harris, 1991; Grey và Holden, 1992). Trị liệu gia đình và liệu pháp nhận thức hành vi hỗ trợ cá nhân nhận diện và điều chỉnh các niềm tin lệch lạc (Ellis; Friedrich và cộng sự, 1985).

Tại Việt Nam, các công trình của Quách Thúy Minh và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Nguyễn Thị Hoàng Yến và cộng sự (2015), Nguyễn Thị Trang (2015), Trần Văn Công và cộng sự (2011, 2017), Nguyễn Thị Kim Quý (2019) đã phản ánh khó khăn kinh tế, tâm lý mặc cảm, áp lực xã hội và sự cần thiết của việc hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ. Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện bốn mặt biểu hiện stress trên quy mô mẫu chuẩn hóa kết hợp kiểm định thực nghiệm tham vấn cá nhân bằng liệu pháp hành vi xúc cảm hợp lý (REBT). Luận án của Nguyễn Thị Mai Hương đã giải quyết khoảng trống thực nghiệm này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp thu các khái niệm và khung phân tích cốt lõi:

  • Khái niệm rối loạn phổ tự kỷ: Sử dụng định nghĩa theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần DSM-5 (mã 299.00), xác định RLPTK là rối loạn phát triển đặc trưng bởi sự suy giảm liên tục trong giao tiếp xã hội, tương tác xã hội và các mẫu hành vi, sở thích định hình, lặp lại.
  • Bản chất stress: Luận án phân biệt rõ stress có lợi (Eustress) và stress có hại (Distress). Khái niệm thao tác của đề tài xác định: Distress là trạng thái không thoải mái về mặt tâm lý xuất hiện khi cá nhân đánh giá chủ quan về sự kiện, hoàn cảnh bên ngoài như những tác nhân có tính chất đe dọa về mặt thể chất hoặc tinh thần, vượt quá khả năng ứng phó và gây hại cho con người.
  • Khung tiếp cận nghiên cứu: Luận án áp dụng tiếp cận tích hợp gồm tiếp cận tâm - sinh - xã hội; tiếp cận tâm lý học phát triển; tiếp cận tâm lý học xã hội; tiếp cận tâm lý học tham vấn (sử dụng mô hình ABCDE của liệu pháp hành vi xúc cảm hợp lý REBT do Albert Ellis sáng lập); và tiếp cận liên ngành giữa tâm lý học, giáo dục đặc biệt và công tác xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tổ chức chặt chẽ qua hai giai đoạn (nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn) với sự phối hợp của các phương pháp định lượng và định tính:

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát trên mẫu gồm 209 cha mẹ trẻ RLPTK (N = 209). Thang đo được thiết kế để đo lường 4 nhóm biểu hiện stress (thực thể, nhận thức, cảm xúc, hành vi); thang đo các vấn đề của trẻ RLPTK (giao tiếp, hành vi, tương tác xã hội); thang đo cách thức ứng phó với stress (ứng phó tích cực và ứng phó tiêu cực); thang đo kiến thức và kỹ năng can thiệp hành vi cho trẻ của cha mẹ; thang đo sự ủng hộ của gia đình. Độ tin cậy của các thang đo được kiểm định qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính về trải nghiệm cảm xúc, hoàn cảnh gia đình, diễn biến tâm lý từ thời điểm phát hiện chẩn đoán của con và các khó khăn thực tế trong chăm sóc.
  • Phương pháp thực nghiệm tham vấn ca cá nhân: Áp dụng tiến trình tham vấn sử dụng liệu pháp REBT cho một trường hợp phụ huynh (mẹ có con RLPTK - chị S.) gồm 08 buổi tham vấn trong vòng 2 tháng nhằm đánh giá khả năng can thiệp giảm stress có hại thông qua thay đổi niềm tin phi lý.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS; sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình - ĐTB, độ lệch chuẩn - ĐLC) và thống kê suy luận (kiểm định khác biệt t-test, phân tích phương sai một yếu tố ANOVA, hệ số tương quan tuyến tính Pearson r).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về stress ở cha mẹ của trẻ có rối loạn phổ tự kỷ

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về stress và stress ở cha mẹ có con RLPTK:

  • Phân tích lịch sử nghiên cứu thuật ngữ stress từ cách tiếp cận sinh học của Cannon (1914, 1935), Hans Selye (1984), đến tiếp cận nhận thức - tương tác của Lazarus (1966, 1993) và các quan niệm của tác giả trong nước như Tô Như Khuê, Lê Khanh, Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy.
  • Làm rõ bản chất của RLPTK theo tiêu chuẩn DSM-5, nhấn mạnh ba nhóm yếu tố nguyên nhân (môi trường, di truyền, tâm lý thần kinh) và tính chất mạn tính suốt đời của rối loạn.
  • Xác lập 4 nhóm biểu hiện stress có hại ở cha mẹ: (1) Biểu hiện thực thể (rối loạn thần kinh thực vật, tim đập nhanh, đau nhức cơ xương, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa); (2) Biểu hiện nhận thức (mất tập trung, suy nghĩ tiêu cực, hoang mang, giảm khả năng ra quyết định); (3) Biểu hiện cảm xúc (lo âu, tức giận, thất vọng, tội lỗi, buồn chán, trầm cảm); (4) Biểu hiện hành vi (thu mình, né tránh giao tiếp, bộc phát cáu gắt, thay đổi thói quen sinh hoạt).
  • Hệ thống hóa ba nhóm tác nhân gây stress: yếu tố từ bản thân trẻ (mức độ khiếm khuyết ngôn ngữ, hành vi vấn đề, khả năng tự phục vụ); yếu tố từ cha mẹ (kiểu hình BAP, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, kỳ vọng); và yếu tố hoàn cảnh sống - hỗ trợ xã hội (kinh tế, thời gian, sự kỳ thị của cộng đồng, mối quan hệ vợ chồng).
  • Phân tích các chiến lược ứng phó (tập trung vào vấn đề/cảm xúc; tích cực/tiêu cực) và nguyên lý của liệu pháp hành vi xúc cảm hợp lý REBT trong việc nhận diện và thay đổi các niềm tin phi lý (Irrational Beliefs - IB) thành niềm tin hợp lý (Rational Beliefs - RB) nhằm tái lập cân bằng cảm xúc.

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày quy trình triển khai nghiên cứu thực nghiệm và đo lường:

  • Mẫu khảo sát định lượng gồm 209 phụ huynh (N = 209) có con RLPTK đang tham gia can thiệp sớm tại 10 trung tâm tại Hà Nội, Bắc Ninh và Ninh Bình.
  • Tiến trình nghiên cứu gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 tập trung tổng quan tài liệu và xây dựng khung lý luận, thiết kế bộ công cụ khảo sát; Giai đoạn 2 tiến hành điều tra thử nghiệm, chỉnh sửa thang đo, khảo sát chính thức, phỏng vấn sâu và triển khai thực nghiệm tham vấn ca.
  • Kiểm định công cụ: Luận án phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha và hệ số tải nhân tố (Factor Loading) của các item thuộc thang đo stress, thang đo ứng phó với stress và thang đo kỹ năng luyện hành vi cho con.
  • Thiết kế thực nghiệm tham vấn ca: Lựa chọn thân chủ là chị S. (phụ huynh có biểu hiện stress có hại rõ rệt); xác định mục tiêu chung và kế hoạch can thiệp 8 buổi tham vấn cá nhân (mỗi tuần 1 buổi, kéo dài 2 tháng) dựa trên mô hình ABCDE của Albert Ellis.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về stress ở cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ

Chương 3 công bố các dữ liệu thực nghiệm và kết quả phân tích thống kê:

  • Thực trạng và phân bố biểu hiện stress: Hầu hết cha mẹ trong nhóm khảo sát có biểu hiện stress ở mức khá thường xuyên kể từ khi con được chẩn đoán. Điểm số stress xuất hiện ở cả 4 nhóm biểu hiện nhưng không đồng đều. Biểu hiện về mặt cảm xúc và hành vi có tần suất xuất hiện cao và rõ nét nhất so với nhận thức và thực thể. Phân tích tương quan Pearson cho thấy 4 nhóm biểu hiện có mối liên hệ nội tại chặt chẽ với nhau.
  • Mối quan hệ giữa stress của cha mẹ với các vấn đề của trẻ: Các vấn đề của trẻ RLPTK được khảo sát ở 3 khía cạnh: giao tiếp, hành vi và tương tác xã hội. Kết quả chỉ ra mối tương quan thuận ở mức cao giữa mức độ nghiêm trọng của các vấn đề ở trẻ với mức độ stress của cha mẹ. Những khó khăn về hành vi và giao tiếp diễn ra liên tục là nguồn tác nhân kích hoạt stress thường xuyên nhất ở cha mẹ.
  • Cách thức ứng phó stress: Cha mẹ sử dụng cả ứng phó tích cực và tiêu cực. Cách thức ứng phó được sử dụng nhiều nhất là "tập trung vào điểm tích cực của con". Ngược lại, cách thức ứng phó ít được sử dụng nhất là "thiền, yoga hay tham gia các khóa học nghệ thuật". Phân tích tương quan khẳng định: cha mẹ có mức độ stress càng cao thì xu hướng sử dụng các cách ứng phó tiêu cực càng lớn.
  • Mối quan hệ giữa stress với các biến nhân khẩu, xã hội, kiến thức và kỹ năng:
    • Trình độ học vấn: Cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn có biểu hiện stress cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có trình độ học vấn cao.
    • Sự hỗ trợ của gia đình: Người thân trong gia đình càng ủng hộ cách chăm sóc, giáo dục trẻ RLPTK thì mức độ stress của cha mẹ càng giảm (tương quan nghịch).
    • Kiến thức về RLPTK: Xuất hiện hiện tượng đáng chú ý là nhóm cha mẹ biết không đầy đủ về các phương pháp can thiệp trị liệu có mức độ stress cao hơn cả nhóm không biết hoặc nhóm hiểu biết đầy đủ.
    • Kỹ năng luyện hành vi: Cha mẹ có kỹ năng luyện hành vi cho con càng thành thạo lại càng thường xuyên biểu hiện stress (do sự đòi hỏi liên tục về năng lượng, sự kiên nhẫn và thời gian rèn luyện trẻ tại nhà).
  • Kết quả thực nghiệm tham vấn ca cá nhân (chị S.): Tiến trình 8 buổi can thiệp bằng liệu pháp REBT đã giúp thân chủ nhận diện các niềm tin phi lý (như tự trách bản thân, tuyệt vọng về tương lai của con), tiến hành tranh luận nhận thức và thay thế bằng các niềm tin hợp lý. Đánh giá sau 2 tháng can thiệp cho thấy mức độ stress có hại, lo âu và suy sụp cảm xúc của chị S. đã giảm rõ rệt, thân chủ học được kỹ năng tự điều chỉnh cảm xúc và thiết lập kế hoạch hỗ trợ con thực tế hơn.
Nhóm biến số nghiên cứu Chỉ số / Công cụ đo lường Phát hiện thực nghiệm cốt lõi
Mức độ và biểu hiện stress (N = 209) Thang đo 4 mặt biểu hiện (Thực thể, Nhận thức, Cảm xúc, Hành vi) Cha mẹ biểu hiện stress ở mức khá thường xuyên; cảm xúc và hành vi là hai nhóm biểu hiện rõ rệt và phổ biến nhất.
Vấn đề của trẻ RLPTK Thang đo 3 lĩnh vực (Giao tiếp, Hành vi, Tương tác xã hội) Tương quan thuận ở mức cao với stress của cha mẹ; hành vi vấn đề và rào cản giao tiếp của con là tác nhân chính.
Chiến lược ứng phó Thang đo ứng phó (Tích cực vs. Tiêu cực) "Tập trung vào điểm tích cực của con" được dùng nhiều nhất; "thiền/yoga/nghệ thuật" dùng ít nhất. Stress cao tương quan thuận với ứng phó tiêu cực.
Học vấn của cha mẹ So sánh nhóm học vấn (ANOVA / t-test) Cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn ghi nhận mức độ stress cao hơn nhóm có học vấn cao.
Hỗ trợ từ người thân Thang đo sự ủng hộ của gia đình Tương quan nghịch có ý nghĩa: nhận được nhiều sự ủng hộ từ người thân giúp giảm mức độ stress của cha mẹ.
Hiểu biết can thiệp & Kỹ năng Thang đo kiến thức trị liệu & Kỹ năng luyện hành vi Nhóm hiểu biết chắp vá/không đầy đủ có stress cao nhất; kỹ năng rèn luyện hành vi càng thành thạo thì tần suất stress càng tăng.
Can thiệp thực nghiệm ca (Chị S.) Mô hình REBT cá nhân (8 buổi / 2 tháng) Thuyên giảm rõ rệt các chỉ số distress, loại bỏ niềm tin phi lý, tái lập trạng thái cân bằng nhận thức - cảm xúc.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng kết các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án đã tổng hợp, phân loại và làm sáng tỏ bốn hướng tiếp cận nghiên cứu về stress ở cha mẹ có con RLPTK: hướng nghiên cứu về mức độ và biểu hiện, hướng nghiên cứu về tác nhân, hướng nghiên cứu về chiến lược ứng phó và hướng nghiên cứu về các biện pháp can thiệp tâm lý.
  • Xây dựng và hệ thống hóa khung lý luận cập nhật về stress ở cha mẹ trẻ RLPTK theo mô hình bốn mặt biểu hiện (thực thể, nhận thức, cảm xúc, hành vi) tích hợp với tiêu chuẩn DSM-5 và mô hình ABCX của tâm lý học gia đình.
  • Làm rõ cơ chế tác động của liệu pháp hành vi xúc cảm hợp lý (REBT) đối với việc điều chỉnh nhận thức và cảm xúc cho đối tượng cha mẹ nuôi dạy con có rối loạn phát triển thần kinh.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam khảo sát chuyên biệt và toàn diện về stress ở cha mẹ trẻ RLPTK trên mẫu 209 phụ huynh tại 10 trung tâm can thiệp sớm.
  • Phát hiện quy luật phân bố biểu hiện: Stress xuất hiện không đồng đều giữa các mặt, trong đó cảm xúc và hành vi là hai phương diện bộc lộ đậm nét nhất.
  • Phát hiện mối liên hệ giữa các biến nhân khẩu - xã hội và nhận thức với stress: học vấn thấp làm tăng stress; sự ủng hộ của người thân giúp giảm stress; hiểu biết không đầy đủ về trị liệu dẫn đến stress cao hơn không biết hoặc biết rõ; kỹ năng rèn hành vi càng thạo thì tần suất xuất hiện stress càng cao do áp lực trực tiếp trong quá trình can thiệp tại gia đình.
  • Chứng minh tính phù hợp và hiệu quả thực nghiệm của quy trình tham vấn cá nhân 8 buổi bằng liệu pháp REBT đối với phụ huynh có biểu hiện stress có hại, đồng thời chỉ ra các yêu cầu điều chỉnh liệu pháp theo bối cảnh văn hóa gia đình và đặc điểm cá nhân của thân chủ tại Việt Nam.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất:

  • Đối với cha mẹ trẻ RLPTK: Chủ động tiếp nhận kiến thức can thiệp chuẩn xác, học cách nhận diện sớm các dấu hiệu stress có hại, xây dựng chiến lược ứng phó tích cực và chia sẻ trách nhiệm chăm sóc với các thành viên khác trong gia đình.
  • Đối với gia đình: Cần tạo lập môi trường thấu hiểu, tăng cường sự đồng thuận và hỗ trợ trực tiếp cho cha mẹ trẻ về mặt tinh thần cũng như chia sẻ gánh nặng chăm sóc hàng ngày.
  • Đối với chuyên gia can thiệp và cán bộ tham vấn: Cần tích hợp hoạt động đánh giá, sàng lọc và hỗ trợ tâm lý cho phụ huynh song song với quá trình can thiệp giáo dục cho trẻ; vận dụng linh hoạt liệu pháp REBT có tính đến đặc điểm văn hóa gia đình Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Dữ liệu khảo sát dựa trên phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tự báo cáo, mang tính đánh giá chủ quan của cha mẹ, chưa kết hợp đo đạc các chỉ số sinh lý - thực thể khách quan (như nồng độ cortisol, huyết áp, nhịp tim).
  • Khách thể nghiên cứu giới hạn ở 209 phụ huynh có con trong độ tuổi can thiệp sớm tại 10 trung tâm thuộc ba tỉnh, thành phố phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình), chưa bao quát các độ tuổi lớn hơn (thanh thiếu niên, trưởng thành) và chưa đại diện cho các vùng miền khác trên cả nước.
  • Quy trình can thiệp thực nghiệm bằng liệu pháp REBT mới chỉ được thực hiện trên một trường hợp đơn ca (chị S.), chưa triển khai can thiệp diện rộng có nhóm đối chứng ngẫu nhiên.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên phạm vi toàn quốc và theo dõi biến thiên mức độ stress của cha mẹ theo các giai đoạn phát triển khác nhau của trẻ RLPTK.
  • Ứng dụng các công cụ đo lường sinh lý học phối hợp với thang đo tâm lý nhằm tăng tính khách quan cho các chỉ báo stress thực thể.
  • Triển khai thử nghiệm các chương trình can thiệp nhóm hoặc can thiệp tâm lý trực tiếp có đối chứng ngẫu nhiên để đánh giá sâu hơn hiệu quả của liệu pháp REBT và các liệu pháp nhận thức hành vi khác.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục đặc biệt, Công tác xã hội và Xã hội học. Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú, khung phân tích bốn mặt biểu hiện stress và các thang đo đã qua kiểm định độ tin cậy.
  • Chuyên viên tâm lý lâm sàng và cán bộ tham vấn: Tham khảo quy trình 8 buổi tham vấn cá nhân bằng liệu pháp REBT, kế hoạch can thiệp chi tiết, cách thức tranh luận nhận thức đối với các niềm tin phi lý đặc thù ở cha mẹ có con khuyết tật phát triển.
  • Giáo viên can thiệp sớm và các nhà quản lý trung tâm chuyên biệt: Nắm bắt các quy luật tâm lý của phụ huynh (đặc biệt là nghịch lý áp lực khi rèn luyện hành vi cho con và tình trạng stress do thiếu thông tin chuẩn xác) để xây dựng mối quan hệ hợp tác hiệu quả giữa gia đình và nhà trường.
  • Nhà hoạch định chính sách xã hội: Có cơ sở thực chứng để xây dựng các chính sách an sinh, mạng lưới dịch vụ chăm sóc thay thế (respite care) và dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần học đường cho gia đình trẻ có nhu cầu đặc biệt.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể khảo sát và địa bàn nghiên cứu của luận án được tổ chức cụ thể như thế nào? Nghiên cứu tiến hành khảo sát định lượng trên 209 cha/mẹ có con RLPTK ở độ tuổi can thiệp sớm (N = 209). Địa bàn nghiên cứu gồm 10 cơ sở chẩn đoán, can thiệp hòa nhập, bán hòa nhập và chuyên biệt tại Hà Nội, Bắc Ninh và Ninh Bình: Trung tâm Sao Biển (ĐH Sư phạm Hà Nội), Khánh Tâm, Gia An, Nắng Mai, Ánh Sao, Akira, Tương Lai Mới (Hà Nội); Trung tâm Ước Mơ (Bắc Ninh); và Trung tâm Thiên Thần Nhỏ (Ninh Bình).

2. Bốn nhóm biểu hiện stress có hại ở cha mẹ được luận án xác định là gì và nhóm nào xuất hiện rõ nét nhất? Bốn nhóm biểu hiện gồm: thực thể, nhận thức, cảm xúc và hành vi. Kết quả xử lý số liệu thực nghiệm cho thấy đa số cha mẹ có biểu hiện stress ở mức khá thường xuyên kể từ khi con được chẩn đoán, trong đó biểu hiện về mặt cảm xúc và hành vi xuất hiện với tần suất cao nhất và rõ rệt nhất so với mặt thực thể và nhận thức.

3. Tại sao cha mẹ có kỹ năng luyện hành vi cho con càng thạo lại có tần suất biểu hiện stress càng cao? Phân tích tương quan Pearson trong luận án chỉ ra mối liên hệ thuận giữa mức độ thành thạo kỹ năng luyện hành vi và tần suất xuất hiện stress. Nguyên nhân xuất phát từ việc rèn luyện và điều chỉnh hành vi cho trẻ tự kỷ là quá trình đòi hỏi sự tập trung cao độ, tiêu tốn nhiều thời gian, năng lượng và tính kiên nhẫn liên tục tại gia đình. Khi nắm vững kỹ năng, cha mẹ thường trực tiếp đảm nhận khối lượng can thiệp lớn hơn, từ đó làm gia tăng áp lực và căng thẳng thường nhật.

4. Xu hướng ứng phó với stress của cha mẹ trong mẫu khảo sát có đặc điểm gì nổi bật? Cha mẹ sử dụng đan xen cả ứng phó tích cực và tiêu cực. Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất là "tập trung vào điểm tích cực của con". Phương pháp ít được sử dụng nhất là "thiền, yoga hay tham gia các khóa học nghệ thuật". Dữ liệu thực nghiệm cũng xác nhận tương quan thuận: phụ huynh có mức độ stress càng cao thì càng có xu hướng tìm đến các cách thức ứng phó tiêu cực.

5. Tiến trình và kết quả thực nghiệm tham vấn cá nhân bằng liệu pháp REBT được tiến hành ra sao? Thực nghiệm tham vấn được thực hiện trên ca đơn lẻ là chị S. (mẹ có con RLPTK có biểu hiện stress có hại) với quy trình 8 buổi tham vấn trong vòng 2 tháng. Dựa trên mô hình ABCDE của liệu pháp hành vi xúc cảm hợp lý, nhà tham vấn đã hỗ trợ thân chủ nhận diện và tranh luận các niềm tin phi lý liên quan đến tình trạng bệnh của con, thay thế bằng các niềm tin hợp lý và thực hiện bài tập hành vi. Kết quả sau 8 buổi ghi nhận sự suy giảm rõ rệt về mức độ stress có hại, giúp thân chủ ổn định tâm lý và cải thiện khả năng tương tác với trẻ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn thông qua việc xác định thực trạng, tác nhân và cơ chế biểu hiện stress có hại ở cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu trên 209 phụ huynh đã chỉ ra các quy luật tương quan quan trọng giữa stress với mức độ khiếm khuyết của trẻ, trình độ học vấn, mạng lưới hỗ trợ gia đình và sự hiểu biết về trị liệu. Đồng thời, việc thử nghiệm thành công mô hình tham vấn cá nhân bằng liệu pháp REBT qua 8 buổi đã cung cấp cơ sở thực nghiệm khẳng định tính khả thi của các can thiệp tâm lý chuyên sâu nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho cha mẹ có con có nhu cầu đặc biệt.