Chương 1: Giới thiệu: Trình bày khái quát lí do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày tổng quan về nghiên cứu, các khái niệm cơ bản liên quan đến hành vi người tiêu dùng và khóa học tiếng Anh trình độ B1, bối cảnh nghiên cứu, mức sẵn lòng chi trả và các lý thuyết được sử dụng làm cơ sở khoa học cho việc phân tích và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu, cách thức, phương pháp thực hiện nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và lấy mẫu và phân tích dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Dữ liệu và mẫu nghiên cứu: Trình bày thông tin về mẫu khảo sát, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đề xuất một số phương án thiết kế khóa học tiếng Anh trình độ B1 phù hợp. Đồng thời, nêu lên những mặt hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các bước nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm có liên quan 1.
Khái niệm về hành vi người tiêu dùng Thuật ngữ hành vi người tiêu dùng (Consumer Behavior) có thể được định nghĩa là những hành vi của các cá nhân (người tiêu dùng) liên quan trực tiếp đến việc tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn, sử dụng và loại bỏ hàng hóa và dịch vụ. Thấu hiểu được hành vi người tiêu dùng là một trong những nhiệm vụ quan trọng giúp doanh nghiệp có quyết định phù hợp, chính xác để đưa ra các chiến lược marketing thu hút khách hàng. Một số quan điểm về hành vi người tiêu dùng nổi tiếng trên Thế giới: Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (dẫn theo Peter & Olson, 2010) “Hành vi người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường giữa nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó con người thay đổi cuộc sống của họ”. Kotler (2001) cho rằng “hành vi của người tiêu dùng là việc nghiên cứu cách các cá nhân, nhóm và tổ chức lựa chọn, mua, sử dụng và loại bỏ hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng và trải nghiệm để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ”.
Theo Loudon & Bitta (1993), “hành vi người tiêu dùng được định nghĩa là quá trình ra quyết định và hành động thực tế của các cá nhân khi đánh giá, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ những hàng hoá và dịch vụ”. Tương tự, Schiffman & Kanuk (1991) cho rằng “hành vi người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý thải bỏ sản phẩm và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ”. (2008) cho rằng hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định về việc mua cái gì, tại sao, khi nào, như thế nào, nơi nào, bao nhiêu, bao lâu một lần, liệu như thế thì sao mà mỗi cá nhân, nhóm người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc các hoạt động. Như vậy, qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể xác định hành vi khách hàng là: - Những suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng.
5 - Hành vi khách hàng là năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi những yếu tố từ môi trường bên ngoài và có sự tác động trở lại đối với môi trường ấy. - Hành vi khách hàng bao gồm các hoạt động mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm dịch vụ. Sở thích của người tiêu dùng Hành vi người tiêu dùng được điều khiển bởi sở thích của người tiêu dùng. Vì vậy, hiểu được sở thích của người tiêu dùng là hết sức quan trọng để hiểu cầu cá nhân.
Trong điều kiện bình thường, người tiêu dùng sẽ không bao giờ mua một hàng hóa nào đó nếu họ không thích. Và ngược lại, người tiêu dùng thường sẵn sàng bỏ nhiều tiền hơn nếu họ rất thích một hàng hoá nào đó. Kinh tế học vi mô định nghĩa sở thích như sau: “Sở thích người tiêu dùng là mức độ ưu tiên lựa chọn giỏ hàng hóa này so với giỏ hàng hóa khác của người tiêu dùng khi mua hàng hóa” (Vũ Kim Dũng & Phạm Văn Minh, 2011). Thuộc tính của sản phẩm là gì? Thuộc tính của sản phẩm là tất cả những đặc tính vốn có của sản phẩm qua đó sản phẩm tồn tại và nhờ đó mà có thể phân biệt được sản phẩm này với sản phẩm khác (Thư viện học liệu mở Việt Nam).
Mỗi sản phẩm đều cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính đặc trưng có giá trị sử dụng đáp ứng những nhu cầu của con người. Chất lượng của các đặc tính này phản ánh mức độ chất lượng đạt được của sản phẩm đó. Mỗi thuộc tính chất lượng của sản phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một mức độ chất lượng nhất định của sản phẩm.
Đối với những nhóm sản phẩm khác nhau những yêu cầu về các thuộc tính phản ánh chất lượng có khác nhau. Tuy nhiên, những thuộc tính chung nhất phản ánh chất lượng sản phẩm gồm: tính năng, tác dụng của sản phẩm, tính kinh tế của sản phẩm, các yếu tố thẩm mỹ, độ tin cậy của sản phẩm. Ngoài những yếu tố hữu hình có thể đánh giá cụ thể đơn giản mức chất lượng thì để phản ánh chất lượng còn có các thuộc tính vô hình rất khó đánh giá nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với khách hàng khi đánh giá chất lượng của một sản phẩm (Đỗ Thị Đông, 2012). Những yếu tố này gồm: - Các yếu tố như tên, nhãn hiệu, danh tiếng, uy tín của sản phẩm cũng trở thành bộ phận quan trọng trong cấu thành chất lượng sản phẩm.
Bản thân uy tín, danh tiếng được coi như yếu tố chất lượng vô hình tác động lên tâm lý lựa chọn của khách hàng. 6 - Những dịch vụ kèm theo cũng là một yếu tố thành phần của chất lượng sản phẩm đảm bảo cho việc thành công của các doanh nghiệp trên thị trường. Mức độ chất lượng sản phẩm phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ chất lượng của từng đặc tính chất lượng và sự tác động tổng hợp của các thuộc tính này. Mỗi thuộc tính có tầm quan trọng khác nhau tùy thuộc vào loại sản phẩm, mục đích và yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng.
Lý thuyết về hành vi tiêu dùng Để hiểu được mong muốn, nhu cầu của người tiêu dùng, chúng ta phải xuất phát từ mô hình hành vi của họ. Vấn đề cốt yếu là hiểu được người tiêu dùng hưởng ứng như thế nào trước những tác nhân marketing khác nhau mà doanh nghiệp có thể sử dụng đến. Doanh nghiệp nắm bắt được điều đó sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn những đối thủ của mình là nghệ thuật và khoa học của việc giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng theo những cách đã được dự kiến sẽ gợi ra những phản ứng tích cực hoặc tiêu cực từ họ. Một trong những khái niệm quan trọng nhất của nó là “mô hình kích thích phản ứng về hành vi người tiêu dùng”, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967 bởi Philip Kotler trong cuốn sách "Quản lý tiếp thị".
Nguồn: Kotler (2020) Hình 1. Mô hình hành vi người tiêu dùng Mô hình hành vi người tiêu dùng bao gồm 3 nhân tố cơ bản: các tác nhân kích thích, “hộp đen” của người mua và các phản ứng đáp lại của người mua. Các yếu tố Marketing (sản phẩm, giá cả phân phối) và các tác nhân khác (kinh tế, công nghệ. chính trị, văn hóa) tác động vào “hộp đen” của người mua, tức là tác động vào những đặc điểm (văn hóa, xã hội, cá tính và tâm lý) cũng như tiến trình quyết định của người mua (nhận thức vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá, 7 quyết định, hành vi mua).
Chúng gây ra những đáp ứng cần thiết từ phía người mua và kết quả là đưa đến một quyết định mua sớm nhất định (loại sản phẩm, nhãn hiệu, số lượng, lúc mua và nơi mua). Các tác nhân kích thích, là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng. Nó bao gồm các yếu tố kích thích của Marketing và các tác nhân kích thích khác. Trước hết, các yếu tố kích thích của marketing là những hoạt động marketing của doanh nghiệp tác động vào người tiêu dùng một cách có chủ đích thông qua các chương trình, chiến dịch marketing 4Ps.
Doanh nghiệp có khả năng kiểm soát các kích thích này. Đối với các tác nhân khác là những tác nhân thuộc môi trường bên ngoài, doanh nghiệp không điều khiển, kiểm soát được. Nó bao gồm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô và có thể gây rủi ro hay thuận lợi cho doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp cần làm đó là dự báo và đưa ra các kế hoạch để giảm thiểu rủi ro và khai thác tối đa thuận lợi.
Khi một khách hàng được kích thích bởi những yếu tố nhất định, các kích thích đó ảnh hưởng đến hành động của họ. Điều gì xảy ra trong tâm trí của khách hàng, một loạt các phản ứng và suy nghĩ diễn ra trong đầu, những suy nghĩ này vẫn là một bí ẩn mà người bên ngoài không thể biết - từ đó cái tên "hộp đen" ra đời. “Hộp đen” ý thức là quá trình xử lý thông tin và đưa ra quyết định trước các nhân tố kích thích. Lý thuyết của Kotler nói rằng sự khác biệt trong hành vi của người mua phụ thuộc vào nội dung của hộp đen bao gồm các đặc tính của người mua và quá trình quyết định mua sắm.
Đặc tính của người tiêu dùng: Khi các tác nhân kích thích tác động vào người tiêu dùng người tiêu dùng tiếp nhận những kích thích đó với những đặc tính của mình như tính cách, tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh gia đình, thu nhập. Từ đó người tiêu dùng xử lý thông tin tiếp nhận được theo cách riêng của họ, cân nhắc đưa ra quyết định mua hoặc không mua hàng. Quá trình quyết định mua sắm.