Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là vấn nạn nghiêm trọng, để lại hậu quả nặng nề và kéo dài đối với sự phát triển thể chất lẫn tinh thần của thế hệ chưa thành niên. Theo thống kê của Bộ Công an được trích dẫn trong văn bản, chỉ tính riêng trong năm 2020, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.945 vụ xâm hại đối với 2.008 trẻ em; trong đó có 1.506 trẻ em bị xâm hại tình dục và 97% số vụ việc có đối tượng thực hiện hành vi quen biết với nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện các công cụ pháp lý hình sự nhằm bảo vệ nhóm đối tượng yếu thế.

Mặc dù hệ thống pháp luật đã được sửa đổi và bổ sung thông qua Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), công tác áp dụng pháp luật đối với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) vẫn gặp phải nhiều vướng mắc. Những bất cập chính bao gồm việc hướng dẫn hành vi dâm ô còn trùng lặp với hành vi quan hệ tình dục khác, kỹ thuật lập pháp theo dạng liệt kê hành vi chưa bao quát toàn diện các tình huống phát sinh trên thực tiễn và quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể ở các khung tăng nặng định khung còn thiếu tính linh hoạt.

Từ bối cảnh thực tiễn và các khoảng trống lý luận nêu trên, đề tài khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các quy định của BLHS năm 2015 và Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, đánh giá tính tiến bộ cũng như những bất cập còn tồn tại; khảo sát thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân (TAND) cấp cơ sở; đồng thời nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và chính sách xã hội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và đặc điểm pháp lý của Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhằm hoàn thiện lý luận và hỗ trợ nhận diện hành vi trên thực tế.
    2. Phân tích chi tiết quy định tại Điều 146 BLHS năm 2015, chỉ ra các điểm tiến bộ và những hạn chế cần điều chỉnh.
    3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua nghiên cứu các bản án và số liệu xét xử thực tế.
    4. Khảo cứu pháp luật hình sự của Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Canada và Liên bang Nga để tiếp thu các kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng đối với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS năm 2015); các điều luật tương ứng trong BLHS Nhật Bản, Đức, Canada và Liên bang Nga.
    • Phạm vi: Hệ thống quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam và số liệu xét xử thực tế tại TAND Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017 – 2021.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và pháp lý:
    • Nền tảng triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
    • Chuẩn mực pháp lý quốc tế: Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em (CRC) — đặc biệt là Điều 34 về cam kết bảo vệ trẻ em trước mọi hình thức bóc lột và lạm dụng tình dục; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về Quyền trẻ em về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (Việt Nam phê chuẩn năm 2001).
    • Hệ thống văn bản pháp luật quốc gia: Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Chương XXVIII), BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP, Thông tư số 20/2014/TT-BYT của Bộ Y tế, Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT và Thông tư liên tịch số 01/2022/TTLT.
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp lịch sử - lập pháp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học pháp lý.
  • Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam; bản dịch và nguồn luật nguyên bản của các quốc gia tham chiếu (Nhật Bản, Đức, Canada, Nga); số liệu công bố từ Bộ Công an; hồ sơ số liệu xét xử thực tiễn từ năm 2017 đến năm 2021 tại TAND Quận 12, TP.HCM; các công trình giáo trình, bài báo chuyên ngành và luận văn có liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Chương I tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng, lịch sử lập pháp, phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) của Điều 146 BLHS năm 2015, đối chiếu phân biệt tội danh và so sánh quy định tương ứng trong pháp luật hình sự quốc tế.

1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý

Sau khi tổng hợp và phê phán các hạn chế của một số khái niệm trong giáo trình đại học và luận văn trước đó (như thiếu định nghĩa hành vi cụ thể, chưa loại trừ mục đích quan hệ tình dục khác, hoặc bỏ sót hành vi ép buộc nạn nhân tiếp xúc với người thứ ba), tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là hành vi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm hoặc bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi hoặc dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm hoặc bộ phận khác trên cơ thể người phạm tội hoặc người thứ ba, có tính chất tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, có lỗi, do người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.

Tội danh có 4 đặc điểm pháp lý bắt buộc: tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tính có lỗi (lỗi cố ý trực tiếp), tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt. Ý nghĩa của việc quy định tội danh gồm: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yếu thế; trừng trị, răn đe và giáo dục người phạm tội; bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; và thực thi các cam kết quốc tế về quyền trẻ em.

2. Lịch sử lập pháp qua các giai đoạn

  • Giai đoạn trước năm 1945: Quốc triều hình luật (Điều 403, Điều 404) và Hoàng Việt luật lệ (Điều 332) quy định trừng phạt tội gian dâm với con gái từ 12 tuổi trở xuống (kể cả thuận tình) như tội hiếp dâm với hình phạt rất nghiêm khắc (lưu đày hoặc tử hình). Dù còn định kiến giới (chủ thể chỉ là nam, nạn nhân chỉ là nữ), luật cổ đã thể hiện tư tưởng bảo vệ trẻ em gái.
  • Giai đoạn 1945 – trước 1985: Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của TANDTC lần đầu hướng dẫn khái niệm dâm ô là "hành vi bỉ ổi... nhằm thỏa mãn tình dục hoặc khêu gợi bản năng tình dục", áp dụng cho cả chủ thể nam và nữ, bảo vệ cả người dưới 16 tuổi (phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm) và người lớn.
  • Giai đoạn 1985 – trước 1999: BLHS năm 1985 ban đầu phi tội phạm hóa hành vi dâm ô, tạo nên lỗ hổng pháp luật lớn. Đến ngày 22/5/1997, Luật sửa đổi BLHS mới bổ sung Điều 202b (Tội dâm ô đối với trẻ em), được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT.
  • Giai đoạn 1999 đến nay: BLHS năm 1999 quy định tội danh tại Điều 116 (chuyển chủ thể thành người đã thành niên). BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) chuyển thành Điều 146, thay đổi tên gọi thành "người dưới 16 tuổi", bổ sung dấu hiệu loại trừ mục đích ("không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác"), lượng hóa cụ thể các tình tiết định khung tăng nặng (thay cho các thuật ngữ định tính như "gây hậu quả nghiêm trọng"), và được cụ thể hóa hành vi qua Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP.

3. Các yếu tố cấu thành tội phạm và phân biệt tội danh

  • Chủ thể: Chủ thể đặc biệt — người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS).
  • Khách thể: Quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi (đối tượng tác động là người dưới 16 tuổi, không phân biệt giới tính).
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích bắt buộc được xây dựng theo mô hình "loại trừ": không có mục đích giao cấu và không có mục đích thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
  • Mặt khách quan: Cấu thành tội phạm hình thức. Tội phạm hoàn thành ngay khi thực hiện hành vi dâm ô (trực tiếp hoặc gián tiếp, dụ dỗ hoặc ép buộc) mà không phụ thuộc vào việc hậu quả đã xảy ra hay chưa.
Tiêu chí Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 144) Tội giao cấu/QHTD khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 145) Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147)
Mục đích của người phạm tội Không nhằm giao cấu hoặc QHTD khác Nhằm giao cấu hoặc thực hiện hành vi QHTD khác Nhằm giao cấu hoặc thực hiện hành vi QHTD khác Nhằm giao cấu hoặc thực hiện hành vi QHTD khác Trình diễn hoặc trực tiếp chứng kiến khiêu dâm
Hành vi khách quan Hành vi dâm ô (khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 06/2019) Giao cấu hoặc QHTD khác bằng vũ lực/đe dọa vũ lực/lợi dụng không thể tự vệ Cưỡng ép giao cấu hoặc QHTD khác bằng cách lợi dụng lệ thuộc/quẫn bách Giao cấu hoặc QHTD khác có sự thuận tình Dụ dỗ, ép buộc trình diễn hoặc xem trình diễn khiêu dâm
Chủ thể phạm tội Người từ đủ 18 tuổi trở lên (Chủ thể đặc biệt) Người từ đủ 14 tuổi trở lên (Chủ thể thường) Người từ đủ 14 hoặc 16 tuổi tùy khoản (Chủ thể thường) Người từ đủ 18 tuổi trở lên (Chủ thể đặc biệt) Người từ đủ 18 tuổi trở lên (Chủ thể đặc biệt)
Ý chí của nạn nhân Thuận tình hoặc trái ý muốn Hoàn toàn trái ý muốn của nạn nhân Trái ý muốn (miễn cưỡng chấp nhận) Thuận tình chấp nhận Thuận tình hoặc bị ép buộc

4. Pháp luật hình sự một số quốc gia

  • Nhật Bản: BLHS Nhật Bản quy định tại các điều 176, 178, 179, 181 về Tội có hành vi khiếm nhã cưỡng bức. Tuổi chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi (Điều 41). Đối tượng tác động được chia làm 2 nhóm: người dưới 13 tuổi (không cần chứng minh thủ đoạn cưỡng bức) và người từ đủ 13 tuổi trở lên (phải có hành vi đe dọa hoặc dùng vũ lực). BLHS Nhật Bản xử phạt cả hành vi phạm tội chưa đạt và quy định hình phạt nghiêm khắc (từ 3 năm tù đến chung thân) nếu gây thương tích hoặc chết người.
  • Cộng hòa Liên bang Đức: BLHS Đức (Phần 174, 176, 176b, 184h) quy định tuổi chịu TNHS từ đủ 14 tuổi. Đáng chú ý, Phần 174 mở rộng bảo vệ người dưới 16 và dưới 18 tuổi trong mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, hoặc mối quan hệ gia đình mở rộng (bao gồm cả con riêng của vợ/chồng, bạn đời sống chung trong mối quan hệ gần giống hôn nhân - quasi-marital relationship). Phần 176b quy định hình phạt tù ít nhất 10 năm hoặc tù chung thân nếu hành vi lạm dụng tình dục dẫn đến hậu quả chết người (kể cả do thiếu thận trọng).
  • Canada: BLHS Canada (Điều 151, 152, 161) quy định tội xâm phạm tình dục và tội mời chào tiếp xúc tình dục đối với người dưới 16 tuổi. Luật quy định ngoại lệ về chênh lệch độ tuổi (bào chữa do có sự chấp thuận nếu người phạm tội nhỏ hơn nạn nhân 2 tuổi đối với nạn nhân 12-13 tuổi, hoặc nhỏ hơn 5 tuổi đối với nạn nhân 14-15 tuổi và không có mối quan hệ phụ thuộc/lợi dụng). Điều 161 trao quyền cho Tòa án ban hành lệnh cấm người phạm tội xuất hiện tại các khu vực công cộng có trẻ em, cấm cư trú trong phạm vi 2 km quanh nhà nạn nhân, cấm sử dụng internet hoặc cấm đảm nhận công việc liên quan đến người dưới 16 tuổi.
Quốc gia Tuổi chịu TNHS Độ tuổi bảo vệ Thủ đoạn đặc thù quy định trong luật Chế tài bổ sung / Biện pháp tư pháp nổi bật
Việt Nam Từ đủ 18 tuổi Dưới 16 tuổi Dụ dỗ, ép buộc (NQ 06/2019) Cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề từ 01 – 05 năm
Nhật Bản Từ đủ 14 tuổi Dưới 13 tuổi và từ 13 tuổi trở lên Dùng vũ lực, đe dọa hoặc lợi dụng mất nhận thức Phạt phạm tội chưa đạt; tăng nặng khi gây thương tích/chết
Đức Từ đủ 14 tuổi Dưới 14 tuổi (trẻ em), dưới 16 và dưới 18 tuổi Lợi dụng quan hệ phụ thuộc, trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục Tù chung thân nếu dẫn đến chết người (Phần 176b)
Canada Từ đủ 12 tuổi Dưới 16 tuổi (kèm quy định chênh lệch tuổi 2-5 năm) Tiếp xúc trực tiếp/gián tiếp hoặc mời gọi tiếp xúc Lệnh cấm tiếp cận 2 km, cấm tới nơi công cộng, cấm internet

Chương II: Thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Chương II phản ánh thực tiễn xét xử, chỉ ra các vướng mắc áp dụng quy phạm và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện.

  • Thực trạng quy định và áp dụng pháp luật:
    • Qua số liệu thống kê tại TAND Quận 12 giai đoạn 2017 – 2021 (Bảng 1 và Bảng 2 trong khóa luận), số lượng các vụ án xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi (Điều 141, 142, 145, 146) có diễn biến phức tạp.
    • Vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn xét xử là việc phân định ranh giới giữa hành vi dâm ô và hành vi quan hệ tình dục khác theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP do một số hướng dẫn còn trùng lặp hoặc mang tính liệt kê thiếu bao quát.
    • Quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể do rối loạn tâm thần và hành vi tại điểm đ khoản 2 (từ 31% đến 60%) và điểm a khoản 3 (từ 61% trở lên) của Điều 146 BLHS năm 2015 là quá cao, gây khó khăn cho việc xử lý tăng nặng trong các trường hợp nạn nhân bị chấn thương tâm lý nghiêm trọng nhưng tỷ lệ giám định pháp y tâm thần không đạt ngưỡng 31%.
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Hoàn thiện quy định về hành vi khách quan: Sửa đổi quy định hướng dẫn tại Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP theo hướng khái quát hóa thay vì chỉ liệt kê hành vi cơ học; bổ sung rõ hành vi dùng dụng cụ tình dục hoặc các vật thể khác tác động lên vùng nhạy cảm của nạn nhân.
    2. Học hỏi kinh nghiệm pháp luật quốc tế:
      • Tiếp thu kinh nghiệm BLHS Đức trong việc mở rộng tình tiết định khung tăng nặng đối với người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục bao gồm cả những người sống chung như vợ chồng hoặc có quan hệ gia đình trên thực tế với cha/mẹ nạn nhân.
      • Tiếp thu kinh nghiệm BLHS Nhật Bản trong việc quy định rõ ràng thủ đoạn đe dọa hoặc dùng vũ lực trong hành vi xâm phạm.
      • Học tập chế định Lệnh cấm sau chấp hành án của Canada (cấm tiếp cận địa bàn cư trú của nạn nhân, cấm xuất hiện tại các khu vui chơi trẻ em, cấm làm việc trong môi trường sư phạm/chăm sóc trẻ em).
    3. Điều chỉnh khung tỷ lệ thương tật: Đề xuất hạ mức tỷ lệ tổn thương cơ thể do rối loạn tâm thần và hành vi để phù hợp với thực tiễn giám định pháp y tâm thần theo Thông tư 20/2014/TT-BYT.
  • Kiến nghị về mặt xã hội: Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục giới tính và kỹ năng tự vệ cho trẻ em trong nhà trường; nâng cao năng lực phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội theo tinh thần Thông tư liên tịch số 01/2022/TTLT.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển lịch sử của chế định Tội dâm ô qua các thời kỳ lập pháp Việt Nam từ thời phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ), thời kỳ chỉ dẫn án lệ (Bản tổng kết 329-HS2 năm 1967), cho đến các bộ luật hình sự năm 1985, 1999, 2015 và văn bản hướng dẫn Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP.
    • Xây dựng bảng đối chiếu phân biệt rành mạch giữa Điều 146 và các tội danh xâm phạm tình dục khác (Điều 142, 144, 145, 147 BLHS năm 2015) dựa trên các tiêu chí: mục đích phạm tội, hành vi khách quan, thủ đoạn và thái độ ý chí của nạn nhân.
    • Phân tích chi tiết quy định lập pháp hình sự của 4 quốc gia (Nhật Bản, Đức, Canada, Nga), chỉ rõ ưu điểm và hạn chế của từng hệ thống pháp luật trong việc xử lý hành vi dâm ô/lạm dụng tình dục trẻ em.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước:
    • Khắc phục các định nghĩa chưa chuẩn xác trong giáo trình và các luận văn trước đây bằng cách đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, bao hàm đầy đủ trường hợp ép buộc nạn nhân tiếp xúc với người thứ ba và nhấn mạnh cơ chế loại trừ mục đích giao cấu/QHTD khác.
    • Luận giải sâu sắc cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật hình sự quốc tế (như lệnh cấm tiếp cận của Canada, mở rộng phạm vi chủ thể quan hệ gia đình của Đức) vào điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu

  • Hạn chế của khóa luận: Số liệu khảo sát thực tiễn xét xử chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn TAND Quận 12, TP.HCM giai đoạn 2017 – 2021; chưa có điều kiện mở rộng thu thập và phân tích dữ liệu xét xử trên quy mô liên tỉnh hoặc bình diện toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khảo sát, đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP và Thông tư liên tịch số 01/2022/TTLT tại nhiều địa phương thuộc các vùng miền khác nhau; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế thi hành các biện pháp tư pháp hạn chế quyền tiếp cận trẻ em đối với người chấp hành xong án phạt tù về tội xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo và ứng dụng

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.
    • Các cán bộ thực tiễn tư pháp (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên) làm việc trong lĩnh vực giải quyết án người chưa thành niên.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Phần phân tích lý luận về 4 yếu tố cấu thành tội phạm và tiêu chí phân biệt Điều 146 với các điều luật từ 142 đến 147 BLHS năm 2015.
    • Chuyên đề so sánh luật hình sự quốc tế (Nhật Bản, Đức, Canada) với các trích dẫn điều luật nguyên bản trong phần phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo tác giả khóa luận, khái niệm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cần được định nghĩa như thế nào để tránh bỏ lọt tội phạm? Trả lời: Tác giả đúc kết định nghĩa: Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là hành vi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm hoặc bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi hoặc dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm hoặc bộ phận khác trên cơ thể người phạm tội hoặc người thứ ba, có tính chất tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, có lỗi, do người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.

2. Dấu hiệu mục đích phạm tội tại Điều 146 BLHS năm 2015 được quy định theo mô hình nào và có ý nghĩa gì trong định tội danh? Trả lời: Dấu hiệu mục đích được quy định theo mô hình "loại trừ mục đích" (không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác). Đây là dấu hiệu then chốt để phân định tội danh: nếu người phạm tội có mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, hành vi sẽ bị truy cứu theo Điều 142, Điều 144 hoặc Điều 145 tùy theo độ tuổi và ý chí của nạn nhân.

3. Pháp luật hình sự Canada quy định trường hợp ngoại lệ nào về sự chấp thuận của nạn nhân đối với hành vi tiếp xúc tình dục? Trả lời: Theo BLHS Canada, sự chấp thuận của nạn nhân được coi là căn cứ bào chữa hợp pháp nếu: (i) nạn nhân từ đủ 12 đến dưới 14 tuổi và người thực hiện hành vi nhỏ hơn nạn nhân dưới 02 tuổi; hoặc (ii) nạn nhân từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và người thực hiện hành vi nhỏ hơn nạn nhân dưới 05 tuổi; với điều kiện người thực hiện hành vi không có vị trí tin tưởng, thẩm quyền, không có quan hệ phụ thuộc hay bóc lột nạn nhân.

4. Kinh nghiệm nào của BLHS Đức được tác giả đề xuất học hỏi để hoàn thiện tình tiết định khung tăng nặng tại Điều 146 BLHS Việt Nam? Trả lời: Tác giả kiến nghị tiếp thu quy định tại Phần 174 BLHS Đức về việc mở rộng phạm vi áp dụng của tình tiết "người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục", bao gồm cả trường hợp nạn nhân là con riêng của vợ/chồng hoặc con của người đang sống chung như vợ chồng (mối quan hệ gần giống hôn nhân - quasi-marital relationship) với người phạm tội.

5. Vì sao quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể tại khoản 2 và khoản 3 Điều 146 BLHS năm 2015 lại bị đánh giá là bất cập? Trả lời: BLHS năm 2015 quy định tỷ lệ thương tật do rối loạn tâm thần và hành vi ở mức 31% đến 60% (khoản 2) và từ 61% trở lên (khoản 3) là quá cao. Quy định này dẫn đến khó khăn trong thực tiễn xét xử khi nạn nhân bị tổn thương tâm lý nặng nề nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định pháp y tâm thần không đạt ngưỡng tối thiểu 31% để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Ngân đã giải quyết một cách có hệ thống và chuyên sâu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam. Công trình làm nổi bật các giá trị lập pháp hiện hành, chỉ rõ các hạn chế trong hướng dẫn áp dụng quy phạm, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu so sánh pháp lý quốc tế giá trị từ Nhật Bản, Đức, Canada và Nga. Các đề xuất hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và biện pháp tư pháp phòng ngừa trong khóa luận là đóng góp khoa học thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật bảo vệ trẻ em tại Việt Nam.