Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Trong phạm vi chƣơng 1, tác giả sẽ phân tích quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về khái niệm và đặc điểm các tội XHTDTE, ý nghĩa của việc quy định các tội phạm XHTDTE theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành, dấu hiệu hiệu pháp lý chung của nhóm tội XHTDTE, các tội cụ thể trong nhóm tội XHTDTE theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành, hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm tình dục trẻ em, đồng thời tác giả cũng đề cập tới một số nội dung liên quan đến tội này gây tranh cãi trên các diễn đàn khoa học luật hình sự, từ đó đƣa ra quan điểm cá nhân của mình. KHÁI NIỆM TRẺ EM, XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM 1. Khái niệm trẻ em Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em đƣợc sử dụng tƣơng đối thống nhất và áp dụng độ tuổi của trẻ em là dƣới 18. Tuy nhiên, trong các Công ƣớc quốc tế nhƣ Tuyên bố của Hội quốc liên về quyền trẻ em (năm 1924), Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời (năm 1948), Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1959), Công ƣớc 138 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (năm 1976), Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1989)… đã khẳng định việc áp dụng độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tùy thuộc vào nội luật của mỗi nƣớc quy định độ tuổi thành niên sớm hơn.
Song, các tổ chức của Liên hợp quốc và quốc tế nhƣ UNICEF, UNFPA, ILO, UNESSCO… đều xác định trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi. Khái niệm "trẻ em" đƣợc quốc tế sử dụng thống nhất và đề cập trong nhiều văn bản. Riêng ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi của trẻ em chính thức đƣợc đề cập trong một văn bản pháp quy sau khi Ủy ban Thƣờng vụ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc hội ban hành Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 1979, trong đó quy định "Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi" [45, Điều 1]. Đến năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đƣợc ban hành đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dƣới 16 tuổi: "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dƣới mƣời sáu tuổi" [29, Điều 1].
Độ tuổi này tiếp tục đƣợc khẳng định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004. Nhƣ vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em đƣợc pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dƣới 16 tuổi. Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ƣớc quốc tế, nhƣng quy định của Việt Nam vẫn đƣợc coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ƣớc. Bên cạnh văn bản luật chuyên ngành, trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em nhƣ BLHS, Bộ luật sân sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thanh niên, Luật quốc tịch, Luật giáo dục, Luật phổ cập giáo dục tiểu học… Tuy nhiên trong mỗi ngành luật đều tiếp cận khái niệm trẻ em ở một khía cạnh khác nhau.
Đặc biệt, một số văn bản luật đã có các chế định cụ thể quy định quyền tự định đoạt của trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên đối với các vấn đề liên quan trực tiếp tới mình nhƣ: có tài sản riêng; nhận nuôi con nuôi; thay đổi họ, tên của con nuôi (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Trẻ từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi đƣợc lấy ý kiến bằng văn bản khi thay đổi quốc tịch (Luật Quốc tịch năm 1998)… Trong thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em. Ngƣời ta thƣờng sử dụng cụm từ "trẻ em", "trẻ con" hay "trẻ thơ" để chỉ những ngƣời ở một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của con ngƣời.
Ở góc độ khoa học, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trẻ em đƣợc định nghĩa tùy theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, nhƣ trong triết học, trẻ em đƣợc xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tƣơng lai của quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em đƣợc xác định là ngƣời có vị thế, vai trò xã hội khác với ngƣời lớn, vì vậy, cần đƣợc xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh trƣởng, nuôi dƣỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển thành ngƣời lớn Mặc dù còn có nhiều cách gọi tên hay vận dụng khác nhau nhƣng chúng ta có thể thống nhất khái niệm trẻ em nhƣ sau: Điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 của nƣớc ta quy định: "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dƣới mƣời sáu tuổi" [33]. Về khái niệm trẻ em. Trong thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan tới quyền và bổn phận của trẻ em.
Dƣới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thƣờng đƣợc tiếp cận theo độ tuổi. Khái niệm "trẻ em" trong pháp luật Việt Nam đƣợc coi là ngƣời chƣa đủ 16 tuổi. Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em Khái niệm "xâm hại tình dục", theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2006: "Tình dục là nhu cầu tự nhiên của con ngƣời về quan hệ tính giao" và "xâm hại là xâm phạm đến khiến bị tổn hại" [48]. Vậy, XHTDTE là xâm hại động chạm đến quyền tự do, đến nhu cầu phát triển tự nhiên của trẻ em về quan hệ tính giao; xâm hại đến thân thể, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của trẻ em.
Do vậy, từ sự phân tích về khái niệm trẻ em, XHTDTE, đặc điểm của loại tội phạm này, XHTDTE có thể đƣợc hiểu: là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự do người có năng lực TNHS thực hiện với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lỗi cố ý và phải chịu TNHS, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tự do tình dục, tính mạng sức khỏe, nhân phẩm danh dự và sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý của trẻ em. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM Từ xƣa pháp luật Việt Nam ít nhiều cũng đã quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em trƣớc tội phạm XHTD và cũng đã có những hình phạt trừng trị nghiêm khắc kẻ phạm tội. Dƣới thời vua Lê Thánh Tông (1428-1788), nƣớc ta có bộ luật thành văn đầu tiên là Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê). Bộ luật này đã có những quy định bảo vệ trẻ em khỏi sự XHTD, tại Điều 404 quy định "Gian dâm với con gái nhỏ từ 12 tuổi trở xuống dù ngƣời con gái có thuận tình cũng xử nhƣ tội hiếp dâm".
Và tội hiếp dâm có khung hình phạt là "Hiếp dâm thì xử tội lƣu hay tội chết và phải nộp tạ. Nếu làm ngƣời đàn bà chết thì điền sản kẻ phạm tội phải trả cho ngƣời chết"… Bộ luật hình sự 1985 thông qua ngày 27/06/1985 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986. Bộ luật có 3 điều luật bảo vệ trẻ em trƣớc XHTD là tội hiếp dâm (Điều 112), tội cƣỡng dâm (Điều 113), tội giao cấu với ngƣời dƣới 16 tuổi (Điều 114). Bộ luật này đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung cho tới khi có BLHS 1999, đó là các năm 1989, 1991, 1992, 1997.
Trong lần sửa đổi bổ sung thứ 4 BLHS 1985 đã sửa đổi 4 điều và bổ sung 2 điều về các tội XHTDTE. Cụ thể nhƣ: sửa đổi tội hiếp dâm (Điều 112), tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a), tội cƣỡng dâm (Điều 113), tội cƣỡng dâm trẻ em (Điều 113a); quy định tại chƣơng II. Và bổ sung: tội mua dâm ngƣời chƣa thành niên (Điều 202a), tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 202b) đƣợc quy định tại Chƣơng VIII các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, tình hình tội phạm tính chất và số lƣợng tội phạm cũng thay đổi.
Nhiều tội phạm mới xuất hiện, tính chất nguy hiểm của nhiều tội phạm tăng đồng thời tính nguy hiểm của nhiều tội phạm cũng không còn. Do đó các quy định của pháp luật hình sự cũng phải 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay đổi để phù hợp với tình hình tội phạm trong điều kiện đất nƣớc thay đổi. Trong phạm vi của luận văn tác giả chỉ đề cập đến những thay đổi trong nhóm tội XHTDTE. Càng về sau này tội phạm XHTDTE diễn ra hết sức phức tạp do đó pháp luật với vai trò là công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm XHTD nói riêng cần phải sửa đổi bổ sung để các quy định pháp luật phù hợp hơn với điều kiện mới.
BLHS 1999 ra đời thay thế cho BLHS 1985. BLHS 1999 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 có hiệu lực ngày 01/07/2000. Nghiên cứu quy định cụ thể của BLHS Việt Nam hiện hành ta thấy có một số điểm sau về dấu hiệu pháp lý chung của nhóm tội này: Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là: "quan hệ xã hội đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhƣng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định [17, tr. Khách thể của tội phạm là yếu tố không tách rời của tội phạm, tội phạm bao giờ cũng xâm hại tới một hoặc một số quan hệ xã hội đƣợc Nhà nƣớc xác định bảo vệ bằng luật hình sự.
Khái niệm khách thể của tội phạm chỉ rõ bản chất giai cấp của luật hình sự, là một căn cứ phân biệt tội phạm với những hành vi không phải là tội phạm. Nghiên cứu khách thể của tội phạm giúp ta nhận thức đầy đủ và sâu sắc nhiệm vụ của luật hình sự và bản chất của tội phạm.