Chương 1: Tổng quan pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Chương 2: Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1.
KHÁI QUÁT CHUNG 1. Hôn nhân Nhu cầu sinh tồn và phát triển đã buộc con người tham gia rất nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau để đáp ứng những nhu cầu về vật chất, văn hóa hoặc tinh thần… Trong các mối quan hệ xã hội thì quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động luôn diễn ra sôi động, đa dạng và gắn liền với bất cứ chủ thể nào. Hôn nhân là hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây cũng là vấn đề luôn được các nhà triết học, xã hội học, luật học nghiên cứu bởi bản chất là “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận” [40] và bởi “qua hôn nhân còn thể hiện sắc thái văn hóa của một tộc người” [27, tr.
Sự bền vững của hôn nhân là cơ sở tạo nên quan hệ vợ chồng và từ đó giúp hình thành các quan hệ phái sinh khác là quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng mà tổng hợp các mối quan hệ này là gia đình. Nói cách khác, hôn nhân là cơ sở của gia đình và tạo nên gia đình với tư cách là tế bào của xã hội. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của Nhà nước”, Ph. Ăng ghen đã chứng minh chế độ gia đình đã trải qua các loại hình tương ứng với ba hình thái kinh tế - xã hội, đó là loại hình gia đình huyết tộc của thời đại mông muội, loại hình gia đình cặp đôi của thời đại dã man và loại hình gia đình một vợ một chồng của thời đại văn minh.
Trong quá trình phân tích và ca ngợi chế độ hôn nhân một vợ - một chồng, Ph. Ăng ghen khẳng định hôn nhân được hình thành trên cơ sở tình yêu và điều kiện quyết định sự tồn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại của hôn nhân cũng là tình yêu: “Trong lý thuyết đạo đức cũng như trong thơ ca, không một quan niệm nào được xác lập bất di, bất dịch và vững chắc bằng quan niệm cho rằng bất cứ một cuộc hôn nhân nào không dựa trên tình yêu thương lẫn nhau và trên sự thỏa thuận thực hiện sự tự do giữa hai vợ chồng, đều là vô đạo đức cả” [21, tr. Quan hệ hôn nhân (QHHN) - dưới góc độ pháp lý là một quan hệ pháp luật đặc thù bởi khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể không phải là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài. Nền tảng tạo dựng và điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của hôn nhân là yếu tố tình cảm.
Các yếu tố khác ngoài tình cảm tự nguyện giữa các chủ thể, không thể là nền tảng của hôn nhân, hoặc nếu có, đã làm sai lệch bản chất thực sự của hôn nhân. QHHN được hình thành trên cơ sở của hôn nhân, khi các chủ thể đáp ứng điều kiện kết hôn (cả về nội dung và nghi thức) theo luật định và được xác lập bằng sự kiện pháp lý: đăng ký kết hôn. Sự kiện đó dẫn tới sự phát sinh và thay đổi các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa các chủ thể (nay đã được công nhận là vợ - chồng). Mặc dù khác biệt với các quan hệ dân sự bình thường bởi mục đích xác lập mối quan hệ lâu dài, điều đó không có nghĩa hôn nhân tồn tại vĩnh viễn mà sẽ bị chấm dứt trong những trường hợp nhất định.
“Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân cũng bị sứt mẻ trong hàng nghìn trường hợp” [21, tr. 127], khi đó sự kiện ly hôn hoặc sự kiện chết của một trong hai bên sẽ chấm dứt QHHN. Như vậy, nội hàm của quan hệ pháp luật hôn nhân bao gồm: sự kiện kết hôn (khi các chủ thể thỏa mãn điều kiện và nghi thức kết hôn) - giai đoạn bắt đầu hôn nhân; tổng thể các quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý về tài sản và nhân thân giữa vợ và chồng - giai đoạn tồn tại hôn nhân và ly hôn - sự kiện kết thúc hôn nhân. Hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài Sự hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia ngày càng phát triển đã tạo điều kiện hình thành các QHHN khác với QHHN truyền thống - QHHN có yếu tố 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước ngoài.
Không giống QHHN thông thường, QHHN có yếu tố nước ngoài thường liên quan tới ít nhất hai hệ thống pháp luật trở lên. Một thực tế là mặc dù cùng điều chỉnh một quan hệ pháp luật, giữa các quốc gia luôn tồn tại những quan điểm khác biệt nhau. Điều đó dẫn đến sự “phức tạp hóa” của đối tượng điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Việc làm sáng tỏ khái niệm và nhận diện đúng “yếu tố nước ngoài” trong QHHN do đó có vai trò hết sức quan trọng, bởi bên cạnh ý nghĩa giúp các chủ thể thực hiện đầy đủ các quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân và xác định đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì một mục đích quan trọng khác, đó là lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh để áp dụng giải quyết, nhằm “hài hòa hóa” các xung đột pháp luật.
Căn cứ vào thực tiễn của các nước và ở Việt Nam thì mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song “yếu tố nước ngoài” của quan hệ dân sự (trong đó có QHHN) được nhận diện dựa vào một trong ba dấu hiệu: Thứ nhất, QHHN giữa các cá nhân có quốc tịch khác nhau hoặc có cùng quốc tịch nhưng cư trú ở các quốc gia khác nhau (dấu hiệu chủ thể có quốc tịch khác nhau). Thứ hai, khách thể của QHHN là tài sản và các quyền tài sản ở nước ngoài, được thực thi ở nước ngoài hoặc theo pháp luật của nước ngoài (dấu hiệu khách thể có liên quan đến nước ngoài). Thứ ba, căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ tại nước ngoài (dấu hiệu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài). Thực tiễn soạn thảo pháp luật dân sự của Nhà nước ta đã dựa trên cơ sở lý luận nêu trên để quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005.
Theo đó, Điều 758 BLDS năm 2005 quy định: "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài" [28]. So với Điều 826 của BLDS năm 1995, các nội dung cơ bản về căn cứ để xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vẫn được kế thừa. Tuy nhiên, Điều 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 758 BLDS năm 2005 đã làm rõ hơn một số vấn đề như sau: Thứ nhất, về chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đã xác định rõ có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thay vì quy định chung là có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia - như BLDS 1995). Thứ hai, về căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đã xác định rõ trường hợp quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Cụ thể hóa quy định trên, theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [31]. Như vậy, các tiêu chí để nhận diện yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là: Thứ nhất, sự khác nhau về quốc tịch của chủ thể tham gia QHHN. Theo đó, một bên trong QHHN là công dân Việt Nam, còn bên kia là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Ví dụ: sự kiện kết hôn giữa nam công dân Singapore với nữ công dân Việt Nam; hoặc sự kiện nam công dân Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn với vợ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Với tiêu chí này, cơ sở pháp lý để xác định yếu tố nước ngoài là sự khác nhau giữa quốc tịch của vợ và chồng (ngoại trừ trường hợp các chủ thể có cùng quốc tịch Việt Nam thì phải có ít nhất một trong bên là người Việt Nam định cư tại nước ngoài). Còn cơ sở pháp lý để xác định chủ thể có phải là người nước ngoài hay không là yếu tố quốc tịch. Khái niệm người nước ngoài đã được tiếp nhận khá sớm trong khoa học pháp lý ở nước ta, từ Tuyên bố về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 01/01/1946, Quyết định số 122/CP ngày 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.