Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Trăng trong nhận thức thẩm mỹ của người phương Đông Từ xưa đến nay, mặt trăng luôn được xem là một người bạn thủy chung của con người. Nó không chỉ trao tặng ánh sáng cho con người trong đêm khuya, mang đến sự ấm áp và niềm an ủi cho những thân phận thê lương bất hạnh, mà còn cổ vũ cho kẻ lữ hành cô đơn, quan tâm sẻ chia cùng người thất ý.
Chính vì vậy, mặt trăng gợi cho người ta những liên tưởng vô tận, dần dần hình thành ra văn hóa mặt trăng phương Đông phong phú và giàu sức hấp dẫn. Trong văn hóa Trung Quốc lẫn Việt Nam, từ ngàn đời nay, mặt trăng chưa bao giờ là một vật thể bình thường, nó hiện diện trong tâm tưởng, suy nghĩ của con người cùng với rất nhiều thế giới huyền thoại, chứa đựng những thông tin về văn hóa nguyên thủy sâu sắc, nó cũng là sự kết tinh truyền thống, bản sắc độc đáo của hai dân tộc từ lâu đời. Con người ở xã hội nguyên thủy từng thờ cúng mặt trăng để cầu xin được che chở. Về sau, con người lại xem mặt trăng là biểu trưng cho tình cảm với nhiều cung bậc khác nhau.
Tình cảm này đã được thể hiện rất nhiều vào trong văn học cả ở Trung Quốc lẫn Việt Nam. Vì thế, khi nghiên cứu thơ thiền Lý Trần Việt Nam với thơ Đường Trung Quốc, lấy “trăng” làm đối tượng trung tâm để khảo sát, phân tích và so sánh, chúng ta có thể hiểu và cảm nhận được những tình cảm cũng như xúc cảm thẩm mỹ độc đáo của các nhà thơ đối với đối tượng đặc biệt này. Thời Lý Trần và thời nhà Đường – những điều kiện lịch sử - văn hóa - Nhà Đường với nhà Lý và nhà Trần đều là những triều đại hùng mạnh trong lịch sử cả hai nước. Ở các triều đại này, kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn hóa nghệ thuật thu được những thành tựu huy hoàng.
nền văn hóa đều có những bước phát triển mạnh mẽ. - Cũng như thời Lý Trần ở Việt Nam, thời nhà Đường ở Trung Quốc, rất sùng thượng Phật giáo. Hai thời đại này ở hai nước đã xuất hiện những cao tăng lẫy lừng danh tiếng chốn thiền lâm. Trong nhiều lĩnh vực văn hóa vật chất cũng như tinh thần của cả hai bên đều có dấu ấn của Phật giáo để lại khá đặc sắc và rõ nét.
- Thời nhà Đường và thời Lý Trần đều là những thời kì quan trọng trong lịch sử giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam. Sau nhà Đường, năm 938, Việt Nam xây dựng chính quyền độc lập, sau đó chưa đầy một thế kỷ là đến nhà Lý, nhà Trần. Cho nên, kể về thời gian hay tính liên tục văn hóa, các triều đại này đều gắn liền với nhau. Phân loại hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường Qua khảo sát quyển Thơ Đường 300 bài, trong tất cả 311 bài, tất cả có 64 bài có hình ảnh trăng.
Qua khảo sát quyển “Thơ văn Lý Trần” tập I(136 bài)và tập II (361 bài), trong tất cả 497 bài thơ văn, có 40 bài thơ thiền có hình ảnh trăng. Có thể căn cứ theo triết học và mỹ học Thiền Tông để phân loại hình ảnh trăng. Những quan điểm triết học và mỹ học Thiền Tông - “Ngôn bất tận ý” (Lời nói không diễn đạt được hết ý) “Ngôn bất tận ý”là một mệnh đề quan trọng trong lịch sử văn hóa phương Đông. Nhà Nho có “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”, Lão Trang có “Đạo khả đạo, phi thường đạo”, “Sở khả đạo giả, ý chi thô dã; bất khả đạo giả, ý chi tinh dã”.
Nói về Thiền tông thì có câu chuyện “Phật tổ đưa lên một cành hoa, Ca Diếp lặng lẽ mỉm cười” và tôn chỉ “Chẳng lập văn tự, thấy tánh thành phật”. Các trường phái triết học đều đã lĩnh hội cái cảm ngộ khó thể biểu đạt bằng ngôn từ, mà cái cảm ngộ này chính là sự theo đuổi của họ, cho nên, họ cần lựa chọn một số hình ảnh biểu tượng trong cuộc sống để bày tỏ cảm ngộ/cảm xúc về số mệnh và sự thăng hoa của tình cảm. - Nhị nhập tứ hạnh Phàm vào đạo có nhiều đường, nhưng Bồ Đề Đạt Ma cho rằng suy cho cùng không ngoài hai đường, chính là lý nhập và hạnh nhâp. Lý nhập là mượn “giáo” để ngộ vào “tông”, nghiêng về lý luận nhiều hơn; còn hạnh nhập hướng dẫn người ta áp dụng giáo lý vào cuộc sống hàng ngày, nghiêng về thực tiễn nhiều hơn.
Lý nhập và hạnh nhập mang ý nghĩa triết học giống nhau và không thể tách rời, sở dĩ chia thành hai cái chỉ vì mong muốn cho người học thiền dễ hiểu hơn. Lý nhập kết hợp với hạnh nhập chính là giáo nghĩa lý luận kết hợp với thực tiễn của thiền pháp. Hạnh nhập bao gồm bốn hạnh, đó là: báo oán hạnh, tùy duyên hạnh, vô sở cầu hạnh và xứng pháp hạnh. Báo oán hạnh nói về việc con người nên đối mặt với cảnh khổ như thế nào, khuyên răn người ta biết nhẫn nhục chịu khổ, nên lấy cảnh khổ để tu đạo và không nên oán trách.
Tùy duyên hạnh nói về hạnh tùy thuận theo duyên nghiệp, tâm người không nên vì được mất mà sướng vui hay đau khổ mà nên có tâm lý lành mạnh trước những khổ vui. Vô sở cầu hạnh nhấn mạnh nên cai tham dục. “Còn cầu còn khổ, hết cầu mới được vui” (P213, kinh nói), nên lấy giải thoát cuối cùng của cuộc đời làm mục đích. Cả ba hạnh nói trên đều là tu hạnh về mặt đạo đức và tâm lý trên thế gian, làm cho tư tưởng Thiền tông giàu ý nghĩa cuộc sống một cách phong phú, giúp con người có thể tu thiền ngay trong cuộc sống, lĩnh hội nỗi vui sướng của thiền pháp, để cho cuộc sống gắn bó chặt chẽ với niềm vui của sự giải thoát.
Cả ba hạnh đều được quy về xứng pháp hạnh. Xứng pháp hạnh thì khó có thể giải thích một cách trực quan như ba hạnh trước mà có phần mang tính trừu tượng. Có thể hiểu đó là khi chúng ta nhận ra nơi chúng ta có thể tánh thanh tịnh, cái thể tánh thanh tịnh này thường hằng, không sinh không diệt. nó còn được gọi là Lý hay Pháp.
Nếu chúng ta làm tất cả mọi việc, tu tất cả hạnh mà đều trở về phù hợp với thể tánh thanh tịnh ban đầu thì gọi là xứng pháp hạnh. Xứng pháp hạnh dựa trên cơ sở thấu hiểu và thực hành phải phù hợp nhau. Mỗi người, nếu tu được xứng pháp hạnh là có thể trở về với bản tâm, tức thể tính thanh tịnh ban đầu. - Hư vô quan của thiền Tông.
Hư vô quan của thiền Tông có thể trích từ một câu chuyện, khi xưa Ngũ Tổ định chọn người kế ngôi Tổ, Tổ bảo cho các môn đồ rằng vị nào có thể tỏ ra đạt đạo, Tổ sẽ truyền áo pháp cho để làm Tổ thứ sáu. Lúc ấy, Thần Tú, người được đồ chúng xem là học cao nhất và xứng đáng nhất được hưởng vinh dự này, đã làm một bài kệ rằng: Thân là bồ đề cội Tâm như gương sáng đài Giờ giờ siêng phủi quét Chớ để nhuốm trần ai Tuy nhiên bài kệ trên chưa mang lại được áo pháp cho người sáng tác, Ngũ Tổ đã truyền áo pháp cho Huệ Năng vì bài kệ này của ông: Bồ đề vốn không cội Gương sáng cũng không đài Nguyên chẳng có một vật Sao gọi phủi trần ai Bài kệ trên thể hiện một cách đầy đủ về ý nghĩa chính của hư vô quan/hư vô luận thiền Tông, tức là: có cũng là không, không cũng là có; nội tâm là không, nhưng trong nội tâm lại chứa đựng vạn vật, vạn vật lại là không. Bất cứ là “bồ đề” hay là “gương sáng” đều chỉ là thí dụ nói về nội tâm, có thể dùng thí dụ này để giải thích bản chất của thiền mà người ta đang theo đuổi. Nội tâm rõ ràng là nơi đầu tiên sinh ra vạn vật, cho nên được người tu thiền gọi là “không”, nhưng để tránh khỏi có người hiểu rằng là hư vô, cho nên gọi nội tâm là “chân không”.
Cái “chân không” này thực sự có chứa đựng vạn vật và chính là cái này sáng tạo ra vạn vật, cho nên vạn vật cũng có chứa đựng tất cả đặc tính một cách bình đẳng của “chân không”, như vậy cũng chứng minh được về sự tồn tại của nó. Phân loại hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường. A.Trăng là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần: Thơ thiền Lý Trần(10 bài )(xin xem phụ lục) Thơ Đường(32 bài)(xin xem phụ lục) B.Trăng như một biểu tượng trong triết học Thiền Tông • Ngôn bất tận ý Thơ thiền Lý Trần (3 bài) (xin xem phụ lục) Thơ Đường (5 bài) (xin xem phụ lục) • Nhị nhập tứ hạnh Thơ thiền Lý Trần (6 bài) (xin xem phụ lục) Thơ Đường (4 bài) (xin xem phụ lục) • Hư vô quan Thơ thiền (8 bài) (xin xem phụ lục) Thơ Đường (2 bài) (xin xem phụ lục) C. Trăng là phương tiện giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc.
+ Trực tiếp: Thơ thiền Lý Trần (7 bài) (xin xem phụ lục) Thơ Đường (4 bài) (xin xem phụ lục) + Gián tiếp: Thơ thiền Lý Trần (6 bài) (xin xem phụ lục) Thơ Đường (17 bài) (xin xem phụ lục) Chương 2. SO SÁNH HÌNH ẢNH TRĂNG TRONG THƠ THIỀN LÝ TRẦN VÀ THƠ ĐƯỜNG VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG, Ý NGHĨA 2. Những điểm tương đồng I. “Ngôn bất tận ý”: (3 bài thơ thiền Lý Trần và 5 bài thơ Đường) Về nội dung và ý nghĩa giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường có 1 điểm tương đồng: Trong bài thơ, hình ảnh trăng đều là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần, và không phải là biểu trưng, ví dụ như: - Thơ thiền Lý Trần: 1.
Thúy trúc, hoàng hoa, phi ngoại cảnh, Bạch vân, minh nguyệt, lộ toàn chân. Trường không chỉ kiến cô luân nguyệt, Sát hải trừng trừng dạ mạn thu. (…) (THỊ TU TÂY PHƯƠNG BỐI - TUỆ TRUNG) Bầu trời bát ngát chỉ nhìn thấy vừng trăng cô đơn, Bể phật trong suốt, đêm chuyển dài vào thu. (…) Đăng chu vọng thu nguyêt, Không ức Tạ tướng quân.
(…) (DẠ BẠC NGƯU CHỬ HOẢI CỔ - LÝ BẠCH) (… ) Lên thuyền ngắm trăng thu, Bỗng bâng khuâng nhớ tướng quân họ Tạ. (…) Tam Tương sầu mấn phùng thu sắc, Vạn lý qua tâm đối nguyệt minh. (…) (VÃN THỨ NGẠC CHÂU - LƯ LUÂN) (… ) Mái tóc phờ phạc đất Tam Tương gặp sắc thu, Lòng nhớ đến làng quê, muôn dặm hướng về trăng sáng.