Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa" được tác giả Nguyễn Thị Minh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thu Yến, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (mã số: 62 22 01 21).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tiến trình văn hóa và văn học của mỗi dân tộc đều kết tinh ở những cá nhân đặc biệt: Nguyễn Du đại diện cho văn hóa Việt Nam và William Shakespeare đại diện cho văn học Anh. Bên cạnh ý thức về tính dân tộc và khu vực, nhân loại luôn hướng tới các giá trị chung mang tính nhân loại. Dựa trên thành tựu của trường phái nghiên cứu văn học so sánh Liên Xô tiêu biểu là N. I. Konrad — người chủ trương chống lại thuyết lấy châu Âu làm trung tâm (eurocentrism hay Western-centrism) và khẳng định Phục Hưng là hiện tượng mang tính toàn thế giới —, tác giả xác lập tiền đề so sánh: cả Nguyễn Du và Shakespeare đều sống trong bối cảnh xã hội xuất hiện đô thị sơ khai ngay trong lòng chế độ phong kiến, khi hệ giá trị tư tưởng truyền thống rạn nứt và đổ vỡ, tạo điều kiện cho tiếng nói của con người cá nhân với tư cách một chủ thể xuất hiện. Tại Việt Nam, nghiên cứu văn học từ ký hiệu học là phương pháp nền tảng nhưng chưa được quan tâm thỏa đáng; đồng thời, việc so sánh thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa vẫn là một mảnh đất hoàn toàn bỏ trống.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể: so sánh thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, vận dụng hệ thống phương pháp của ký hiệu học để giải mã các tầng nghĩa tiềm ẩn trong văn bản thơ, từ đó chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về phương thức biểu đạt giữa hai tác giả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp: 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và 154 bài thơ sonnet của William Shakespeare. Trong phạm vi tiếp cận của ký hiệu học, luận án tập trung khảo sát trung tâm là hình tượng "chủ thể trữ tình".
- Phạm vi không gian và thời gian: Luận án giới hạn khảo sát trên bề mặt văn bản ngôn từ nghệ thuật, đối chiếu không gian văn hóa Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với không gian văn hóa Anh thời kỳ Phục Hưng sơ kỳ cận đại (cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII).
| Tiêu chí |
Thơ chữ Hán Nguyễn Du |
Thơ sonnet Shakespeare |
| Quy mô ngữ liệu khảo sát |
250 bài thơ chữ Hán |
154 bài thơ sonnet |
| Bản văn bản đối chiếu chính |
Bản của Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân và bản của Lê Thước, Trương Chính |
Bản chú giải của Stephen Booth (1977) và Helen Vendler |
| Trọng tâm khảo sát ký hiệu học |
Ký hiệu thân xác ("tóc"), ký hiệu ngoài thân ("gương", văn chương) |
Ký hiệu thân xác ("mắt"), ký hiệu ngoài thân ("gương", văn chương) |
| Hệ quy chiếu văn hóa - lịch sử |
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX |
Nước Anh thời kỳ Phục Hưng và thời đại Elizabeth |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia lịch sử nghiên cứu thành hai mảng tách biệt: các công trình về thơ chữ Hán Nguyễn Du và các công trình về thơ sonnet Shakespeare.
Đối với thơ chữ Hán Nguyễn Du, tác giả phân loại tài liệu thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất gồm các tài liệu nghiên cứu chung về sáng tác của Nguyễn Du hoặc nghiên cứu tiểu sử có đề cập đến thơ chữ Hán:
- Nguyễn Đăng Thục (Thế giới thi ca Nguyễn Du) tiếp cận thơ chữ Hán qua lăng kính tâm Thiền như một phương thức giải thoát tinh thần khỏi bế tắc xã hội thời Lê mạt Nguyễn sơ.
- Đỗ Đức Dục (Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du, 1989) khẳng định vị trí của tập Bắc hành tạp lục bên cạnh Thanh hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm, định danh phong cách của Nguyễn Du là "chủ nghĩa hiện thực tâm lý – trữ tình" gắn liền với cảm thức "tài mệnh tương đố".
- Trần Ngọc Vương (Loại hình học tác giả văn học: Nhà Nho tài tử và văn hóa Việt Nam, 1995), tiếp nối hướng đi của Trần Đình Hượu, xếp Nguyễn Du vào loại hình nhà Nho tài tử coi sáng tác văn chương là sự nghiệp chính yếu của cuộc đời mình.
- Trần Đình Sử (Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, 2005; Những thế giới nghệ thuật thơ, 1997) giải thích sự vận động của hình tượng con người cá nhân bắt nguồn từ sự phát triển của đô thị phương Đông làm nảy sinh ý thức thị dân; các thi phẩm khóc nàng Tiểu Thanh, ca nữ La Thành, người gảy đàn ở Thăng Long là tiếng khóc than cho kiếp người phôi pha.
- Hoàng Trọng Quyền (Luận án tiến sĩ, 2005: Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và khác biệt về tư tưởng nghệ thuật) so sánh quan niệm sáng tác và cảm quan hiện thực của hai tác giả nhưng chủ yếu dựa vào bản dịch thơ, chưa đối chiếu nguyên tác chữ Hán.
- Các công trình tiểu sử của Bùi Văn Nguyên (Nguyễn Du – người tình và Nguyễn Du – tình người), Nguyễn Lộc (Nguyễn Du), và luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà (Nguyễn Du và con đường hoạn lộ qua thơ chữ Hán) khai thác thơ chữ Hán như văn bản "vị đời", đối lập với tính chất "văn chơi" của các sáng tác chữ Nôm.
- Nhóm thứ hai gồm các công trình chuyên khảo trực tiếp về thơ chữ Hán:
- Các bài viết nghiên cứu của Hoài Thanh, Xuân Diệu (nhận định thơ chữ Hán mang âm hưởng "buổi chiều thu tê tái"), Nguyễn Huệ Chi (khẳng định "Nguyễn Du không phải con người hành động mà là con người tư tưởng"), Trương Chính, Nguyễn Hữu Sơn, Đào Xuân Quý, Mai Quốc Liên đi sâu phân tích tâm sự thế sự và các tác phẩm tiêu biểu như Sở kiến hành, Long Thành cầm giả ca, Phản chiêu hồn, Độc Tiểu Thanh kí.
- Luận án tiến sĩ của Lê Thu Yến (Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du) khảo sát toàn diện thi pháp hình tượng con người (lãng mạn, lo âu, đau khổ), thời gian (úa tàn, ký ức, khoảnh khắc), không gian (nhỏ hẹp, rộng lớn) và ngôn ngữ thơ; cuốn Đọc và dịch thơ chữ Hán của Thảo Nguyên cung cấp các gợi ý bình chú văn bản.
Đối với thơ sonnet Shakespeare, tài liệu được phân chia theo hai khối ngôn ngữ:
- Tài liệu tiếng Việt: Đỗ Khánh Hoan (Khái niệm về ngôn ngữ và thi pháp Anh, 1971/1974) là tài liệu sớm nhất giới thiệu thể "thập tứ hàng thi" của Shakespeare; Thái Bá Tân (W. Secxpia thơ xônê chọn lọc, 1995) dịch 77 bài và chia 154 bài thành các nhóm chủ đề về tình bạn (sonnet 1 đến 126) và tình yêu với "the Dark Lady" (sonnet 127 đến 152), kết thúc bằng hai bài phỏng cổ điển (153 và 154).
- Tài liệu tiếng Anh:
- Vấn đề trật tự văn bản và cấu trúc: Cathy Shrank (2009) khảo sát văn bản in năm 1609 đối chiếu với bản in năm 1640 của John Benson, kết nối với khái niệm "khung" của trường phái Tartu – Moscow.
- Các chuyên luận theo chủ đề và văn bản: Dympna Callaghan phân tích các motif cái đẹp, tình yêu và thời gian; Michael Schoenfeldt biên soạn tuyển tập phê bình A Companion to Shakespeare’s Sonnets; James K. Lowers phân tích ba chủ đề bất tử (qua sinh sản thế hệ sau, qua thơ ca, qua tình yêu); Helen Vendler (The Art of Shakespeare’s Sonnets) diễn giải chi tiết 154 bài bằng ngôn ngữ học cấu trúc; Harold Bloom chỉ ra các bài then chốt (sonnet 3, 64, 116) và các bài hay được bàn luận (sonnet 20, 134, 135, 136).
- Nghiên cứu từ ký hiệu học: Michael Shapiro (1998) nghiên cứu tương quan âm và nghĩa qua tỷ lệ âm sonorant/obstruent để tìm thương số thanh tính (sonority quotient - SQ) trong sonnet 55, 33, 34; Jackson Barry (1999) phản biện Shapiro qua khảo sát sonnet 4 và sonnet 134, đồng thời phân tích nghĩa của cặp vần "use/abuse" trong cấu trúc liên văn bản với dụ ngôn những yến bạc trong Kinh Thánh (Phúc âm Matthew 25: 14-30).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn công trình trước đây về thơ chữ Hán dừng lại ở phân tích nội dung đạo đức - xã hội hoặc tiểu sử, đồng nhất chủ thể trữ tình với con người thực của Nguyễn Du ngoài đời, và chỉ xem ngôn từ ở tầng bậc ngôn ngữ tự nhiên sơ cấp. Luận án khắc phục khoảng trống này bằng cách đặt thơ chữ Hán Nguyễn Du trong thế đối sánh loại hình với thơ sonnet Shakespeare, tiếp cận văn bản nghệ thuật như một hệ thống ký hiệu thứ cấp để làm sáng tỏ cấu trúc biểu đạt của chủ thể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng lý thuyết ký hiệu học văn hóa bắt nguồn từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu của Ferdinand de Saussure, phát triển qua Louis Hjelmslev và định hình rõ nét ở trường phái Tartu – Moscow do Yuri Lotman lãnh đạo (cùng các học giả B. Uspenski, V. Ivanov, V. Toporov, A. Pjatigorski).
Luận án xác lập các luận điểm lý thuyết nền tảng:
- Mối quan hệ giữa ký hiệu học và văn hóa: Ký hiệu học văn hóa không đơn thuần là sự kết hợp cơ học giữa phương pháp ký hiệu học và đối tượng văn hóa. Theo trường phái Tartu – Moscow, văn hóa được định nghĩa là một cơ chế ký hiệu học lưu trữ, truyền đạt và sản sinh thông tin. Văn hóa vận hành qua ba chức năng cơ bản: chức năng ghi nhớ (ký ức tập thể), chức năng giao tiếp (luân chuyển văn bản qua các kênh), và chức năng sáng tạo (sản sinh văn bản mới).
- Hệ thống mô hình hóa sơ cấp và thứ sinh: Ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống mô hình hóa sơ cấp. Văn học và các loại hình nghệ thuật khác đóng vai trò là hệ thống mô hình hóa thứ sinh (ngôn ngữ thứ cấp), được xây dựng và mã hóa tầng tầng lớp lớp chồng xếp lên trên cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên.
- Quan niệm về văn bản nghệ thuật: Theo Lotman, văn bản nghệ thuật có ba đặc trưng bản chất: tính biểu đạt (vật chất hóa trong ký hiệu), tính biệt lập (ranh giới phân định với phi văn bản), và tính cấu trúc (tổ chức nội tại mang tính toàn vẹn). Theo Pjatigorski (1962), văn bản được xác lập trên ba bình diện: cú pháp học, dụng học và ngữ nghĩa học. Về phân loại, văn bản gồm loại liên tục (nondiscrete, mang tính không gian, trực quan) và loại không liên tục (discrete, mang tính thời gian, gián đoạn, dựa trên ký hiệu quy ước ngôn từ).
- Khái niệm chủ thể tính (subjectivity): Luận án sử dụng khái niệm chủ thể để xem xét cách thức cái tôi cá nhân tự ý thức, tự định vị vị thế tồn tại của bản thân trong tương quan với thân xác và môi trường xã hội trong trào lưu nhân văn chủ nghĩa thời kỳ chuyển biến lịch sử.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp hai phương pháp chủ đạo:
- Phương pháp phân tích văn bản của ký hiệu học châu Âu: Dựa trên bốn nguyên tắc do Bronwen Martin đúc kết (nghĩa không tự thân có sẵn mà do người quan sát kiến tạo; văn bản là đơn vị tự trị; cấu trúc tự sự tiềm ẩn dưới diễn ngôn; văn bản có nhiều tầng bậc nghĩa từ sâu đến bề mặt). Thao tác phân tích tập trung khảo sát các danh từ xuất hiện với tần số cao, lặp đi lặp lại trong văn bản để xác định chìa khóa mã, từ đó phát hiện các quan hệ cấu trúc và ngữ nghĩa thứ cấp.
- Phương pháp so sánh loại hình: Được áp dụng để so sánh các đối tượng văn học không có quan hệ giao lưu hay ảnh hưởng trực tiếp về mặt lịch sử, dựa trên tính quy luật và những đặc trưng phổ quát trong tư duy biểu đạt nghệ thuật của con người ở các nền văn hóa khác nhau.
Về dữ liệu nghiên cứu, đối với thơ chữ Hán Nguyễn Du, tác giả đối chiếu văn bản chữ Hán giữa hai ấn bản: ấn bản của Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân (chỉ ra và hiệu chỉnh các nhầm lẫn giữa chữ Hán và phiên âm ở các bài Quỷ môn quan, Giáp thành Mã Phục Ba miếu, Lạng thành đạo trung) và ấn bản của Lê Thước, Trương Chính. Đối với thơ sonnet Shakespeare, tác giả sử dụng bản chú giải nguyên tác tiếng Anh của Stephen Booth (1977) và Helen Vendler, kết hợp bản dịch thơ của Thái Bá Tân và các bản dịch nghĩa của chính tác giả luận án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Ký hiệu học văn hóa với việc nghiên cứu chủ thể tính trong văn học thuộc trào lưu nhân văn chủ nghĩa
Chương 1 đóng vai trò xây dựng hệ phương pháp luận và khung phân tích cho toàn bộ công trình. Nội dung chương tập trung vào hai vấn đề học thuật chính:
- Hệ thống hóa lược sử ký hiệu học từ khởi nguồn y học của Galen (thế kỷ II), các quan điểm triết học của Platon, Aristote, Henry Stubbes (1640), John Locke (1690 với thuật ngữ semiotika), đến hai trụ cột hiện đại là C. S. Peirce (ký hiệu học gắn với logic học và tiến trình semiosis) và F. de Saussure (khái niệm phù hiệu học, tính hai mặt của ký hiệu, trục đối vị và kết hợp). Tác giả so sánh hai nhánh ký hiệu học châu Âu: trường phái Paris (nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ trừu tượng) và trường phái Tartu – Moscow (Lotman xuất phát từ văn bản thực nghiệm cụ thể). Đồng thời, chương trình bày chi tiết các định nghĩa về văn bản nghệ thuật, phân loại văn bản liên tục và không liên tục, văn bản hướng về người gửi và người nhận, cùng các phê phán học thuật dành cho ký hiệu học văn hóa (tính chủ quan của người phân tích, sự phụ thuộc vào biệt ngữ, xu hướng xem trọng trục đồng đại hơn trục lịch đại).
- Luận giải khái niệm chủ thể tính (subjectivity) trong trào lưu nhân văn chủ nghĩa: Đặt chủ thể trong bối cảnh lịch sử thời đại Nguyễn Du và Shakespeare. Tác giả phân tích sự trỗi dậy của con người cá nhân khi nền kinh tế đô thị manh nha trong xã hội phong kiến, làm đổ vỡ các tín niệm giáo điều cũ kỹ và thúc đẩy cá nhân tự nhận thức về quyền sống, vị thế tồn tại và bản ngã của mình.
Chương 2: Chủ thể nội quan: vấn đề thân xác
Chương 2 đi sâu vào kết quả khảo sát văn bản thực tế, phân tích cách thức chủ thể trữ tình tự hình dung về mình thông qua các ký hiệu thân xác:
- Ý thức về chữ thân và sự định vị thân xác: Trong văn hóa truyền thống phương Đông, chữ "thân" thường bị ràng buộc trong các nghĩa vụ luân lý dòng tộc, đạo đức phong kiến ("lập thân", "tu thân"); ở phương Tây thời Trung cổ, thể xác bị coi là nguồn gốc của tội lỗi trước tôn giáo. Sang thời kỳ Nguyễn Du và Shakespeare, thân xác được ý thức như một thực thể tồn tại tự nhiên của con người cá nhân, gắn liền với cảm xúc, nhu cầu trần thế và sự hữu hạn của đời người.
- Mối quan hệ giữa thân xác và tinh thần: Thân xác không còn là cái vỏ đối lập thụ động của linh hồn mà trở thành nơi lưu giữ những biến động của đời sống nội tâm, nơi thể hiện sự tàn phá của thời gian và những chấn thương tinh thần của chủ thể.
- Khảo sát các ký hiệu thân xác tiêu biểu:
- Ký hiệu "tóc" (bạch phát, đoản phát) trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: Xuất hiện với tần số cao, mái tóc bạc trở thành biểu tượng trung tâm của sự tàn úa thể xác, dấu chỉ sự trôi chảy nghiệt ngã của thời gian, và sự bất lực, u uất của kẻ sĩ trước tình cảnh lưu lạc, nghèo túng và sự suy vi của thời cuộc.
- Ký hiệu "mắt" (eye/eyes) trong thơ sonnet Shakespeare: Mắt là giác quan thị giác thu nhận vẻ đẹp bên ngoài của "a young man" và "the Dark Lady", đồng thời là nguồn cơn khơi gợi đam mê dục cảm. Mắt trong sonnet tạo nên sức căng thường trực giữa cái nhìn cảm tính bên ngoài với cái nhìn thấu thị của nội tâm, giữa sự chân thực của vẻ đẹp tự nhiên và những ảo tưởng do dục vọng tạo nên.
Chương 3: Chủ thể tương chiếu: những sức căng trong bản chất nhị nguyên của con người
Chương 3 khảo sát sự trình hiện của chủ thể thông qua các ký hiệu nằm ngoài cơ thể — phương thức chủ thể soi chiếu bản thân vào thế giới bên ngoài để nhận thức căn tính:
- Chủ thể trong quan hệ với cuộc đời:
- Phân biệt giữa "tôi" và "thiên hạ": Chủ thể trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và sonnet Shakespeare đều bộc lộ ý thức tách biệt bản ngã cá nhân ra khỏi đám đông dung tục. Ở Nguyễn Du là nỗi cô đơn của một tâm hồn mẫn cảm trước sự trôi dạt của thời thế ("thiên hạ hà nhân khấp Tố Như"); ở Shakespeare là ý thức về tính độc lập, vượt thoát khỏi những quy chuẩn luân lý và danh lợi phù phiếm của xã hội đương thời.
- Tinh thần hoài nghi trần thế: Cả hai nhà thơ đều hướng về cuộc đời thực tại với một thái độ hoài nghi sâu sắc. Ở Nguyễn Du là sự hoài nghi trước các giáo điều đạo đức phong kiến, xót thương cho những thân phận tài hoa bạc mệnh; ở Shakespeare là sự hoài nghi tính vĩnh cửu của trật tự tôn giáo, tính chân thực của các mối quan hệ tình bạn và tình ái trước sự tàn phá của thời gian.
- Chủ thể trong quan hệ với chính mình:
- Hành động "soi gương" (đối kính, mirror): Tấm gương là phương tiện ký hiệu học trung gian phản chiếu diện mạo. Khi nhìn vào gương, chủ thể đối diện trực tiếp với sự già nua, suy tàn của thể xác đối lập với khát vọng tinh thần, nhận diện vết rạn nứt giữa cái tôi hiện hữu và bản ngã bên trong.
- Suy tư về văn chương: Cả Nguyễn Du và Shakespeare đều thể hiện ý thức sâu sắc về thiên chức sáng tạo và giá trị của văn học nghệ thuật. Thơ ca vừa là nơi ký thác tâm sự sâu kín, vừa là phương tiện duy nhất để chống lại sự lãng quên của thời gian nhằm đạt tới sự bất tử, dù bản thân chủ thể không ít lần rơi vào tâm trạng hoài nghi về sự hư vô của nghiệp văn chương.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đóng góp vào việc xác lập khung định hướng nghiên cứu văn học dựa trên lý thuyết ký hiệu học văn hóa của trường phái Tartu – Moscow tại Việt Nam. Công trình chuyển hóa các khái niệm trừu tượng (văn bản nghệ thuật, ngôn ngữ mô hình hóa thứ sinh, mã hóa phân tầng) thành hệ thống thao tác phân tích văn bản cụ thể.
- Luận án góp phần giới thiệu và ứng dụng hệ thống lý thuyết về chủ thể tính (subjectivity) — một phạm trù lý thuyết có bề dày phát triển trong khoa học xã hội phương Tây nhưng còn tương đối mới mẻ trong nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn:
- Luận án là công trình đầu tiên so sánh có hệ thống giữa 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và 154 bài thơ sonnet của William Shakespeare từ góc độ ký hiệu học văn hóa.
- Làm rõ phương diện tổ chức ngôn ngữ thứ cấp của hai tác giả, giải mã cấu trúc biểu đạt của chủ thể qua các ký hiệu cụ thể về thân xác ("tóc", "mắt") và các ký hiệu tương chiếu ("gương", văn chương).
- Phân tích mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần, chỉ ra bản chất nhị nguyên và những sức căng nội tại trong nhận thức của con người thời kỳ chuyển biến từ trung đại sang cận đại ở cả hai nền văn hóa Đông – Tây.
Kiến nghị và đề xuất của luận án:
- Về phương pháp luận: Khuyến nghị việc tiếp cận các tác phẩm văn học cổ điển cần đi sâu vào tổ chức nội tại của văn bản ở tầng bậc ký hiệu thứ cấp, tránh việc quy chiếu dung tục từ văn bản nghệ thuật sang tiểu sử tác giả hoặc bối cảnh lịch sử bề mặt.
- Mở rộng ứng dụng phương pháp so sánh loại hình sang các cặp tác giả thuộc các nền văn hóa khác nhau có sự tương đồng về bối cảnh văn hóa - xã hội, vượt qua ranh giới của các nghiên cứu ảnh hưởng truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được văn bản chỉ ra:
- Lý thuyết ký hiệu học văn hóa vẫn là một hệ thống lý thuyết mở, có độ phức tạp cao về mặt thuật ngữ; kết quả phân tích ký hiệu học phụ thuộc nhiều vào năng lực diễn giải của cá nhân người nghiên cứu nên khó tránh khỏi tính chủ quan nhất định.
- Luận án tập trung khảo sát trục đồng đại và cấu trúc hình thức bề sâu của văn bản nghệ thuật, do đó bình diện lịch đại và các biến đổi thể loại theo tiến trình thời gian chưa được đào sâu tương xứng.
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung vào hình tượng chủ thể trữ tình và một số hệ thống ký hiệu tiêu biểu (tóc, mắt, gương, văn chương), chưa thể bao quát toàn bộ thế giới hình tượng nghệ thuật phong phú của cả hai tác giả.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án dự kiến sẽ mở rộng nghiên cứu sâu hơn về nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch lớn về số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu thơ chữ Hán so với Truyện Kiều tại Việt Nam.
- Khảo cứu khả năng vận dụng ký hiệu học Bắc Mỹ (khởi đầu từ hệ thống tam phân của Charles Sanders Peirce) để tìm kiếm các góc nhìn bổ trợ cho nhánh ký hiệu học văn hóa châu Âu.
- Mở rộng khảo sát các hệ thống biểu tượng văn hóa khác trong sáng tác của Nguyễn Du và Shakespeare, chẳng hạn như không gian đô thị, thiên nhiên, và các biểu tượng âm thanh.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Văn học so sánh, Lý luận văn học, Văn học Việt Nam trung đại và Văn học Anh có thể sử dụng luận án như một tài liệu tham khảo chuyên sâu.
Các nội dung có giá trị tham khảo cụ thể gồm:
- Toàn bộ Chương 1 cung cấp tài liệu tổng thuật rõ ràng về lịch sử hình thành ký hiệu học châu Âu, các luận điểm nền tảng của trường phái Tartu – Moscow (Yuri Lotman) và khung lý thuyết về chủ thể tính.
- Các thao tác giải mã văn bản ở Chương 2 và Chương 3 cung cấp quy trình phân tích cụ thể: thống kê tần số xuất hiện của các danh từ then chốt, xác định mối quan hệ song hành và đối lập giữa các yếu tố ngôn ngữ thứ cấp, và kết nối văn bản với các mã văn hóa của thời đại Phục Hưng phương Tây cũng như văn hóa Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở khoa học nào cho phép tác giả đặt thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare vào thế đối sánh khi hai tác giả không có quan hệ tiếp xúc lịch sử trực tiếp?
Luận án dựa trên phương pháp so sánh loại hình và luận điểm của học giả N. I. Konrad thuộc trường phái so sánh Liên Xô. Konrad khẳng định Phục Hưng là hiện tượng mang tính toàn thế giới xuất hiện khi xã hội phong kiến bước vào giai đoạn suy thoái và kinh tế đô thị sơ khai nảy sinh. Cả Nguyễn Du và Shakespeare đều sống trong bước chuyển lịch sử đó, khi các hệ thống tư tưởng cũ đổ vỡ, tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của con người cá nhân với tư cách là một chủ thể sáng tạo và tự ý thức.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa hướng tiếp cận ký hiệu học văn hóa của luận án với các nghiên cứu trước đây về thơ chữ Hán Nguyễn Du là gì?
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận thơ chữ Hán ở góc độ nội dung xã hội, quy chiếu tác phẩm vào hoàn cảnh tiểu sử tác giả hoặc phẩm bình cảm thán, đồng thời xem ngôn từ ở tầng bậc ngôn ngữ tự nhiên sơ cấp. Luận án tiếp cận văn bản nghệ thuật như một hệ thống mô hình hóa thứ sinh (ngôn ngữ thứ cấp), phân tích các quan hệ cấu trúc nội tại của ký hiệu độc lập với các yếu tố ngoài văn bản để tìm ra các lớp nghĩa bề sâu.
3. Vì sao tác giả chọn phân tích ký hiệu "tóc" ở Nguyễn Du và ký hiệu "mắt" ở Shakespeare trong Chương 2?
Xuất phát từ nguyên tắc giải mã ký hiệu học: các ký hiệu lặp đi lặp lại với tần số cao là dấu hiệu đầu tiên để tìm chìa khóa mã của văn bản. Khảo sát ngữ liệu cho thấy "tóc" (bạch phát) là ký hiệu thân xác trung tâm trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, thể hiện sự tàn úa thể xác và nỗi u uất thế sự; trong khi "mắt" (eye/eyes) là ký hiệu thân xác xuất hiện dày đặc trong sonnet Shakespeare, biểu hiện xung đột giữa nhận thức thị giác cảm tính bên ngoài và sự thấu thị của nội tâm.
4. Dữ liệu văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du được tác giả đối chiếu và xử lý như thế nào trong luận án?
Tác giả nghiên cứu trực tiếp trên nguyên bản chữ Hán, đối chiếu giữa ấn bản của Mai Quốc Liên - Nguyễn Quảng Tuân và bản của Lê Thước - Trương Chính. Quá trình này giúp tác giả phát hiện và hiệu đính các lỗi sai sót trong văn bản như sự gắn nhầm chữ Hán sang phần phiên âm của các bài thơ Quỷ môn quan, Giáp thành Mã Phục Ba miếu và Lạng thành đạo trung.
5. Luận án tiếp thu những luận điểm cơ bản nào từ trường phái ký hiệu học Tartu – Moscow?
Luận án tiếp thu luận điểm xem văn bản là đơn vị nghĩa nền tảng của văn hóa; văn hóa là cơ chế ký hiệu học vận hành qua ba chức năng (ghi nhớ, giao tiếp, sáng tạo); ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống mô hình hóa sơ cấp, còn văn học là hệ thống mô hình hóa thứ sinh; và các đặc trưng bản chất của văn bản gồm tính biểu đạt, tính biệt lập và tính cấu trúc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh là công trình nghiên cứu so sánh loại hình có hệ thống giữa 250 bài thơ chữ Hán Nguyễn Du và 154 bài thơ sonnet Shakespeare. Bằng việc vận dụng lý thuyết ký hiệu học văn hóa của trường phái Tartu – Moscow kết hợp lý thuyết chủ thể tính, luận án đã làm sáng tỏ phương thức mã hóa ngôn ngữ thứ cấp và cấu trúc biểu đạt của chủ thể con người cá nhân thời kỳ chuyển biến xã hội. Các kết quả giải mã ký hiệu thân xác và ký hiệu tương chiếu không chỉ làm sáng tỏ các giá trị thẩm mỹ bề sâu của hai thi hào mà còn cung cấp một khung thao tác phương pháp luận hữu ích cho việc nghiên cứu văn học cổ điển từ góc nhìn ký hiệu học hiện đại.