phần mở đầu và phần kết thúc…, cho nên sự sắp xếp các yếu tố trong văn bản cũng là một vấn đề rất quan trọng. Khi chọn nghiên cứu sonnet, đương nhiên chúng tôi chọn bản in đầu tiên được nhiều * “Hiệp hội Shakespeare Anh” – tên viết tắt BSA, được thành lập năm 2002, là một hiệp hội chuyên nghiệp, một tổ chức tự nguyện cống hiến cho việc học tập, thực hành và thưởng thức Shakespeare trên toàn lãnh thổ nước Anh. Hiệp hội có một tập san chuyên ngành - được đánh giá là tập san hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về Shakespeare, số đầu tiên ra năm 2005, xuất bản online 4 lần 1 năm và ra bản in mỗi năm 1 lần. Các bài viết về sonnet Shakespeare mà chúng tôi thu thập được chủ yếu là từ tập san chuyên ngành này.
16 người đồng thuận. Song cách nghĩ của Cathy Shrank cũng là một kiến giải độc đáo, đưa ra nhiều gợi ý hay. Nó cũng cho thấy một thực tế: việc nghiên cứu Shakespeare ở thời nào cũng có khả năng sinh ra các hiện tượng thú vị, Shakespeare đã lôi cuốn các thế hệ, các nền văn hóa không thuộc về mình, đến mức người ta gọi đó là “nghiên cứu văn hóa Shakespeare” (Shakespearean cultural studies). Vấn đề thứ hai cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm là vấn đề truyền thống trong các bài sonnet.
Chữ “truyền thống” (tradition) ở đây bao gồm cả truyền thống tư tưởng lẫn truyền thống văn chương. Sonnet Shakespeare không tách rời thời đại Phục Hưng khi mà niềm tin vào thần thánh, nhà thờ đang có nguy cơ đổ vỡ, các nhà tư tưởng, bên cạnh việc phục hồi các giá trị của nền văn minh Hy Lạp, cũng đặt niềm tin sâu sắc vào con người, vào tình yêu, vào tất cả những gì hiện hữu. Sonnet Shakespeare đồng thời không tách rời hệ đề tài, lối biểu đạt của cội nguồn của nó – sonnet Ý cùng các nhà sáng tác sonnet Anh đi trước. Chỉ có điều, đến ông, tất cả đều đạt độ kết tinh.
Và đây là một yếu tố bộc lộ khía cạnh văn hóa trong sonnet Shakespeare. Vì văn hóa là kí ức cộng đồng bao gồm cả ý thức và vô thức, tác phẩm là một thông điệp dồn nén trong nó các trầm tích văn hóa. Cũng giống như con người không thể sống tiếp mà không có quá khứ, cái mới chỉ có thể hình thành trên nền tảng của cái cũ. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn chú ý đến một số vấn đề khác như vần, nhịp, nhạc tính của thơ* cùng các nhân vật bí ẩn “a young man” và “a sensual woman” là đối tượng mà Shakespeare muốn gửi gắm, nhắn nhủ trong các bài thơ của mình.
Đặc biệt, vấn đề được xem như hiện tượng văn hóa thời * Sonnet từ Ý vào anh đã có nhiều thay đổi về vần, nhịp, bố cục để thích nghi với ngôn ngữ và đôi tai thẩm âm của người Anh, trong đó Shakespeare là người có công lớn tạo nên phong cách riêng của sonnet Anh. Cho nên, ông không phải người đầu tiên viết sonnet theo kiểu Anh, nhưng sau này người ta vẫn gọi sonnet Anh là sonnet kiểu Shakespeare để phân biệt với sonnet theo kiểu Ý. 17 đại – vấn đề đồng tính luyến ái trong sonnet cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Bên cạnh đó là rất nhiều các nghiên cứu chỉ quan tâm riêng đến một bài sonnet nào đó, tập trung khám phá giá trị nghệ thuật, nội dung của nó.
Theo Harold Bloom, ba bài sonnet có vị trí then chốt trong sonnet Shakespeare là sonnet 3, sonnet 64 và sonnet 116. Còn các bài sonnet hay được nhắc đến nhất là sonnet 20, sonnet 134, sonnet 135, sonnet 136. Về dạng tài liệu thứ hai, các tác giả khi viết chuyên luận về sonnet Shakespeare thường có hai xu hướng: phân tích sonnet theo chủ đề và đi chi tiết cụ thể từng bài. Tiêu biểu cho xu hướng thứ nhất là Dympna Callaghan, Michael Schoenfeldt cùng một số người khác; tiêu biểu cho hướng thứ hai là Helend Vendler.
Trong cuốn “Shakespeare’s Sonnets”, Dympna Callaghan, như ông tự bộc bạch, tập trung vào văn bản tác phẩm hơn là các vấn đề xung quanh tác giả. Ông đặc biệt chú ý đến các vấn đề nổi trội trong sonnet như “cái đẹp”, “tình yêu” và “thời gian”. Ông cũng có ý thức đi tìm khuôn mẫu của các nhân vật được miêu tả trong tác phẩm ở các hình mẫu thời đại, nằm trong truyền thống văn hóa phương Tây và so sánh Shakespeare với các nhà thơ trước đó, đặc biệt là Petrarch. Nói chung, đây là một cuốn sách dễ đọc, cung cấp cho người đọc các kiến thức chung nhất về sonnet, nó được xem là cuốn sách nhập môn khi muốn bước vào thế giới sonnet Shakespeare.
Trong cuốn sách biên soạn, tập hợp các bài phê bình nghiên cứu của các học giả qua nhiều thời đại*, Michel Schoenfeldt cũng cùng quan điểm với Callaghan, nhóm các bài viết thành các vấn đề, theo đó cuốn sách được chia làm 6 phần: phần 1 tập hợp các bài viết về hình thức, cấu trúc sắp xếp các bài sonnet, phần 2 bàn về mối quan hệ giữa sonnet Shakespeare và sáng tác của các nhà thơ trước ông, phần 3 nói về các lí thuyết biên tập và tiểu sử, phần 4 dành nói về * Chi tiết xin xem: “A Companion to Shakespeare’ Sonnets” (Michael Schoenfeldt). 18 các bản chép tay và bản in sonnet qua quá trình lịch sử, phần 5, 6 và phần 7 dành nói về ba chủ đề chính trong sonnet: các mô hình của ham muốn, ý niệm về bóng tối, kí ức trong sonnet. Các phần còn lại nói về mối quan hệ của sonnet Shakespeare với các vở kịch và trường ca khác của ông. Việc nhóm các tác giả với cách viết, quan điểm khác nhau theo cùng một chủ đề của người biên tập đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc có được cái nhìn đa chiều về các vấn đề trong sonnet.
Trong Shakespeare’s Sonnets, Tiến sĩ James K. Lowers thuộc Đại học Hawaii có đưa ra những kiến giải về các vấn đề cơ bản nhất của sonnet Shakespeare: thời điểm sáng tác (date of composition); trật tự và cách sắp xếp (order and arangement); các nghi vấn mang tính tự truyện (question of autobiography) liên quan tới các nhân vật “the fair young man”, “the dark lady”, “the rival poet”; các chủ đề nổi trội (dominant themes) và tập hợp các bài phê bình hay của các nhà nghiên cứu. Tác giả xem ba trong số các chủ đề nổi trội của sonnet Shakespeare là sự bất tử qua thế hệ sau (immortality through offspring), sự bất tử qua thơ ca (immortality through verse), sự bất tử qua tình yêu (immortality through love). Công trình nghiên cứu công phu và kĩ lưỡng về thơ sonnet Shakespeare được nhiều người nhắc đến là của Giáo sư Đại học Harvard Helen Vendler: The Art of Shakespeare’s Sonnets.
Trong cuốn sách này, bằng việc diễn giải chi tiết 154 bài sonnet của Shakespeare, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hình tượng được ẩn giấu và đặc điểm phong cách các bài thơ, nêu lên được những tầng nghĩa quan trọng trong mỗi dòng thơ cũng như cách các phần kết hợp với nhau để tạo ra ý nghĩa. Trước khi đi vào từng bài thơ, tác giả cũng dành một phần giới thiệu kĩ lưỡng về cấu trúc, giọng điệu của sonnet, về Shakespeare như một người kể chuyện, một nhà thơ. Phương pháp của Helend Vendler khá đa dạng, song chủ yếu là phương pháp phân tích ngôn ngữ học của chủ nghĩa 19 cấu trúc. Đây là một cuốn sách khó đọc song rất lí thú và có giá trị về phương pháp luận.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các nghiên cứu về sonnet từ góc nhìn kí hiệu học. Các nghiên cứu về sonnet từ góc nhìn ký hiệu học Trong bài viết “Sound and Meaning in Shakespeare’s Sonnets”*, Shapiro đặt ra vấn đề thơ Shakespeare đầy những sự trùng điệp âm thanh và chơi chữ, song câu hỏi về mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong sonnet thì vẫn chưa được trả lời, một phần vì chưa có một phương pháp để chỉ ra được là có sự tương ứng như thế tồn tại. Ông dựa vào sự phân biệt giữa các chuỗi âm sonorant và obstruent†, cho rằng trong sonnet Shakespeare chúng tương ứng với các ý nghĩa chỉ sự tự do và ràng buộc, và khẳng định mối quan hệ giữa âm và nghĩa vì thế mang tính hình hiệu. Ông nhận định, trong số các tác phẩm của Shakespeare, ngoại trừ Hamlet, sonnet là tác phẩm được bàn đến nhiều nhất, song chưa có tác phẩm nào trả lời được cho câu hỏi: liệu âm có phải là tiếng vọng của nghĩa hay không.
Ông dẫn ra một vài nghiên cứu và chỉ ra các tác giả chưa chứng minh được sự song hành về âm có vai trò gì trong việc kiến tạo ý nghĩa mà theo các phân tích trước đó, nó chỉ như một thứ trang sức cho lời thơ hoặc phục vụ cho các hình thức song hành về cú pháp và ý nghĩa. Tác giả bỏ qua nguyên âm vì các nguyên âm đương nhiên vang và mở, sau nguyên âm là đến các sonorant và sau đó mới đến các obstruent. Bằng cách đếm số đơn vị sonorant (SUs) trong bài thơ rồi chia cho tổng số âm tiết, tác giả tìm được thương số thanh tính (sonority quotient - SQ) của tác phẩm. * Michael Shapiro (1998), Sound and Meaning in Shakespeare’s Sonnets, Linguistic Society of America, Vol.
Nguồn: https://www. † Trong bài viết, Shapiro cũng chú thích: sonorants bao gồm các âm mũi (được thể hiện bằng các chữ cái: m, n, ng); âm nước ( được thể hiện bằng chữ cái r) và các âm lướt (được thể hiện bằng các chữ cái h, y, w); còn obstruents bao gồm các phụ âm còn lại, là các phụ âm đúng nghĩa. 20 Theo đó, những bài thơ có chỉ số SQ trên 0,300 có tính kêu vang và tính mở. Gắn với nó là sức mạnh tự do, không rang buộc.
Ông chứng minh điều này bằng sonnet 55, một bài thơ có tỉ lệ SQ cao. Ngược lại, những bài có tỉ lệ obstruents cao thì có nội dung gắn với sự chế định, ràng buộc, mất tự do. Ông cũng chứng minh bằng sonnet 33 và 34. Tuy nhiên, trong chương 5 cuốn “Art, Culture and the Semiotics of Meaning”*, ở chương 5 – phần bàn về kí hiệu học thơ ca, “The Semiotics of Poetry: that a Poem Mat Mean and Be”, Jackson Barry đặt ra nghi vấn: liệu mối quan hệ giữa âm và nghĩa có thực sự là quan hệ hình hiệu? Theo ông, để điều này có thể xảy ra, cần có hai điều kiện: thứ nhất là thanh tính được nhận ra, có thể chỉ vô thức, nhưng chắc chắn là có tự trong bản thân nó đặc tính mở của cơ quan phát âm đã tạo ra nó.
Thứ hai, cảm giác vật lý của các âm mở cần nghe có vẻ như là mở.