Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Câu nhượng bộ trong tác pham "Bau vật của đời" của bản tiếng Việt Chương 3: Cách chuyền dịch câu nhượng bộ từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Câu nhượng bộ tiếng Việt và những vấn đề liên quan 1. Khái niệm câu nhượng bộ Câu nhượng bộ là một kiểu câu rất phô biến, tần số xuất hiện rất cao tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ. Đã có nhiều định nghĩa về câu nhượng bộ.
Câu nhượng bộ là một kết cấu phức hợp bao gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện. Câu nhượng bộ là một kiểu câu vừa cơ bản vừa quan trọng trong ngôn ngữ tự nhiên, nó tồn tại hầu hết các ngôn ngữ như tiếng Hy Lạp cô đại, tiếng Latin, tiếng Hán, tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác nữa. Theo ngữ pháp truyền thống, đây là những câu phức mà cấu tạo gồm hai mệnh dé. Dé làm rõ hơn khái niệm cũng như các van đề chung liên quan đến câu nhượng bộ, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều ý kiến khác nhau của các tác giả và thống nhất sử dụng quan điểm về khái niệm câu nhượng bộ của Diệp Quang Ban.
Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu nhượng bộ là loại câu ghép. Đề làm rõ khái niệm câu nhượng bộ, chúng tôi xin bắt đầu từ câu ghép. Khái niệm câu phép: “câu ghép là câu do hai (hoặc hơn hai) câu đơn kết hợp với nhau theo kiểu không câu nào bao chứa câu nào, mỗi câu đơn trong câu ghép tự nó thoả mãn định nghĩa về câu. Có thé dùng tên gọi “dang câu” hay “về câu” dé chỉ câu nam trong câu ghép” Phân loại câu ghép: a.
Câu ghép chính phụ: La cau ghép có quan hệ ngữ pháp không bình đăng, thường gọi là quan hệ chính phụ, hay quan hệ phụ thuộc giữa hai về câu, về phụ phụ thuộc vào về chính. Về phụ là về chứa quan hệ từ phụ thuộc, quan hệ phụ thuộc đưa về phụ vào câu. Câu ghép chính phụ thường được phân loại thành những loại nhỏ như sau: 1. Câu ghép nguyên nhân 2.
Câu ghép điều kiện/giả thiết 3. Câu ghép nhượng bộ 4. Câu ghép mục đích b. Câu ghép đăng lập: Là câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các về câu là ngang hàng nhau, không về nào phụ thuộc vào về nào.
Câu ghép đăng lập được phân thành các tiểu loại như sau: 1. Câu ghép liên hợp (dùng quan hệ từ liên hợp) 2. Câu ghép tương liên (dùng cặp phó từ, đại từ hô ứng) 3. Câu ghép tiếp liên (không dùng quan hệ từ và cặp từ hô ứng) Như vậy, câu nhượng bộ thuộc câu ghép chính phụ, chính vì nó mang đầy đủ tính chất của câu ghép và câu ghép chính phụ.
Khái niệm câu nhượng bộ được tác giả Diệp Quang Ban đưa ra trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt như sau: “ Câu ghép nhượng bộ là câu ghép chính phụ mà ở đầu, về phụ có chứa các quan hệ từ diễn đạt quan hệ nhượng bộ như: tuy, mặc dầu, dù, thà.” Ví dụ: Tuy tôi đã nói nhiều lần, nhưng nó vẫn không nghe lời. KBR 7 Jie , ARERR EA. Một số điểm cần chú ý: + Trong kiểu câu này, về phụ đứng trước về chính thì sẽ tạo ra quan hệ nhân nhượng như ví dụ trên. + Nếu trật tự thay đôi ngược lại, tức là về chính đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc — nhượng bộ, và trong trường hợp này không được dùng từ “nhưng” đứng đầu về chính nữa.
Ví dụ nếu về chính được đưa lên trước về phụ thì câu sẽ có dạng: Nó không nói gì, tuy rằng nó biết rất rõ. Tình hình nghiên cứu câu nhượng bộ trong tiếng Việt Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, đã có rất nhiêu tác giả đã đề cập đến vấn đề câu nhượng bộ, các mức độ nông sâu của các nghiên cứu cũng không giống nhau. Sau đây chúng tôi xin điểm một số công trình nghiên cứu về câu nhượng bộ. Hoàng Tuệ đã nêu ra kết cấu “dầu P thì Q” là kiểu kết cấu của những câu phức hợp có quan hệ phụ thuộc nhượng bộ.
Và đưa ra nghĩa P và Q là hai mệnh đề với hai kết cau Đề - Thuyết.[ I6] Hoàng Trọng Phién(1980) sắp xếp câu nhượng bộ qua cách thé hiện quan điểm về ngữ nghĩa của các liên từ “tuy” và “mặc du”. Ông viết “mặc dù.” chỉ là giả thiết, diéu kiện và một tình hình nào đó, “.” không phải là giả thiết mà là sự thực.[19] Nguyễn Kim Thản(1997) xếp câu có liên từ “tuy”, “đù”, “mặc du” vào loại câu nhượng bộ. Ngoài ra ông chú ý thêm những vi từ tình thái đi kèm với các liên từ chỉ sự nhượng bộ như “vẫn”, “cũng”.[23| Nguyễn Tài Can(1999) chỉ ra trong câu nhượng bộ, nếu về phụ đứng trước về chính thì tạo ra quan hệ “nhượng bộ - tương phản”, ngược lại khi về phụ đứng sau về chính thì tạo ra quan hệ “sự việc - nhượng bộ”, trong trường hop này, về chính không sử dụng liên từ “nhưng”, “mà”. Trong câu nhượng bộ thông thường thì về chính đứng sau về phụ, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, chịu hạn chế của ngữ ảnh và dé biểu đạt chức năng, về chính cũng có thể đứng trước về phụ.[7] Diệp Quang Ban(2000) xếp câu nhượng bộ vào câu ghép chính phụ.
Dù anh có xấu xa cỡ nào, tôi vẫn yêu anh. Tôi van quyêt định ra di, dù mọi người đã can ngăn. Phân loại câu nhượng bộ tiếng Việt Nguyễn Chí Hòa dựa vào vị từ đã chia câu nhượng bộ thành 3 loại: a. Về phụ đứng đầu: Mặc dầu tôi đã hết sức mình, nhưng cũng không cứu được người đó.
MERCRREDA , wR SBA. Về phụ đứng giữa : Trông thấy chồng con thế dầu có ruột gan là sắt cũng phải đau đớn. Về phụ đứng cuối : Cô ta định sinh thêm đứa nữa, dù đã có ba đứa con. tb‡TS—B2+—^, S/Ab 5=).
Hồ Lê (Cú pháp tiếng Việt) phân loại như sau: Hồ Lê căn cứ vào tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mỗi quan hệ điều kiện-hệ qua dé phân loại. Theo đó, có bốn kiêu nhưng trong đó có ba kiểu là cầu trúc nhượng bộ như bảng sau: Bảng 1. bảng phân loại câu điều kiện của Hồ Lê Tiêu chí Phân loại Dạng thức của câu trúc Điều kiện giả định Dù(cho). Nội dung của điều kiện Điêu kiện hiện thực Tuy.
Tính chât của môi quan | Điêu kiện thuận hệ hệ điêu kiện-hệ quả quả(không phải câu | Vì. trúc nhượng bộ) Điều kiện nghịch hệ Tuy. quả Căn cứ bảng trên ta thấy cầu trúc nhượng bộ có điều kiện giả định và điều kiện hiện thực đều thuộc cấu trúc nhượng bộ có điều kiện nghịch hệ quả. Kết hợp hai tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của môi quan hệ điều kiện nghịch hệ quả ta thấy theo quan điểm của Hồ Lê thì cau trúc nhượng bộ có hai loại: 1.
Cấu trúc nhượng bộ có điều kiện giả định nghịch với hệ quả: dù cho. Cấu trúc nhượng bộ có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả: mặc dù.nhưng, tuy. Nguyễn Đức Dân phân loại như sau: Nguyễn Đức Dân gọi câu nhượng bộ là cau trúc nghịch nhân quả. Xuất phát từ tiêu chí trạng thái của các đối tượng xảy ra theo thứ tự thời gian được đề cập đến cấu trúc nhượng bộ, ông phân cấu trúc nghịch nhân quả làm hai loại: cầu trúc nghịch nhân quả sớm và cấu trúc nghịch nhân quả muộn.
Cụ thể như bảng dưới đây: Bang 1. Bảng tổng hop các dạng cấu trúc nghịch nhân quả của Nguyễn Đức Dân 10 Loại Kiêu Dạng thức của câu trúc Giải thích Tuy X còn A nhưng (mà) Y đã D Đối tượng X còn ở trạng thái A nhưng đối tượng Y đã chuyên sang trạng thái D. Sở dĩ có ý nghĩa Tuy X mới A nhưng (mà) Y đã D này là do sự Cau trúc kết hợp của nghịch nhân lên từ chỉ quả sớm nhượng bộ và kết cấu “con.” Đối tượng X chưa sang Tuy X chưa A nhưng (mà) Y đã D trạng thái A nhưng đối tượng Y đã 11 chuyển sang trạng thái D nhờ sự kiện liên kết giữa cau trúc nhượng bộ với két cau “chưa.” Đối tượng X đã chuyển sang trạng thái A nhưng đối tượng Y Tuy X đã A nhưng (mà) Y vẫn vẫn còn ở (còn) D trạng thái D nhờ sự kiện liên kết giữa cầu trúc nhượng bộ với két cau 12 “da.” Déi tuong X đã chuyén sang trạng thái A nhưng đối tượng Y vẫn còn chưa sang trạng Tuy X đã A nhưng (mà) Y van thái D nhờ sự (con) chua D kiện liên kết giữa cấu trúc nhượng bộ với kết cấu “đã.” theo quy luật thông thường Su kién B tat câu trúc yếu Sẽ xảy ra nghịch nhân Di/Dau A nhưng (mà) van B cho dù sự quả muộn kiện A là yếu tô cản trở. 13 Sự kiện B tất yêu Sẽ xảy ra cho dù sự - kiện A là yếu 7 Mặc dù A nhưng (mà) vẫn B ; to can tro.
Su kiện A va B déu da xay ra. Trong bảng trên đây, X và Y có thé là cùng một đối tượng hoặc cũng có thé là hai đối tượng. Nguyễn Vân Phé phân loại như sau: Kế thừa các thành tựu nghiên cứu về cấu trúc nhượng bộ của các nhà Việt ngữ và ngữ học nước ngoài một cách có chọn lọc, Nguyễn Vân Phổ đã có cách phân loại cau trúc nhượng bộ với hai dạng: - Cau trúc nhượng bộ “Mặc dù P, Q” - Cấu trúc điều kiện-nhượng bộ “Dù P thiQ” 1. Cơ sở lý luận của câu nhượng bộ tiếng Hán 1.1 Khái niệm câu ghép nhượng bộ tiếng Hán Khái niệm câu ghép được Vương Ứng Vỹ “Văn pháp tiếng Hán thực dụng” (1920) đưa ra, ông cho rằng bất kỳ 2 câu đơn trở lên nào ghép với nhau đều tạo thành câu ghép.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm chính xác nhất là Lưu 14 Phục, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Trung” (1920) chỉ ra rằng: “Bất kỳ hai hoặc 2 phân câu hợp thành câu gọi là câu ghép”, những câu không có hình thức như thế là câu đơn. Việc xác định khái niệm về thuật ngữ này và cách sử dụng đối lập của câu đơn đã kết thúc trang thái mơ hồ khi xác định thuật ngữ này trước kia, hơn nữa nó còn có tác dụng lớn trong việc xác định lý luận ồn định về câu ghép tiếng Hán. Vương Lực “Ngữ pháp Trung Quốc hiện đại tiếng Hán” định nghĩa câu ghép: “ những câu được hình thành từ việc ngắt nghỉ câu khi đọc được gọi là câu ghép”. Ông là người đầu tiên chỉ ra đặc trưng quan trọng trong khi đọc phải ngừng nghỉ của câu ghép.