Luận văn thạc sĩ: Chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng Hán sang tiếng Việt trong tác phẩm của Mạc Ngôn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ngôn ngữ học nghiên cứu cách chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng hán sang tiếng việt trên tư liệu, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

124
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu chuyển dịch

Nghiên cứu chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng Hán sang tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Đề tài này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp của hai ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dịch thuật. Câu nhượng bộ, một kiểu câu phổ biến trong cả hai ngôn ngữ, có vai trò quan trọng trong giao tiếp. Việc phân tích và so sánh câu nhượng bộ giữa tiếng Hántiếng Việt sẽ giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng và cấu trúc của chúng. Tác phẩm “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn được chọn làm tư liệu nghiên cứu, cung cấp một nguồn ngữ liệu phong phú cho việc khảo sát và phân tích. Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc hỗ trợ các dịch giả và người học ngôn ngữ.

1.1. Lý do chọn đề tài

Đề tài này được chọn vì sự cần thiết trong việc nghiên cứu và hiểu rõ hơn về câu nhượng bộ trong tiếng Hántiếng Việt. Câu nhượng bộ là một phần quan trọng trong ngữ pháp của cả hai ngôn ngữ, và việc nghiên cứu nó sẽ giúp làm rõ những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của loại câu này. Hơn nữa, việc so sánh và đối chiếu giữa hai ngôn ngữ sẽ giúp phát hiện ra những khó khăn trong dịch thuật và từ đó đề xuất các phương pháp dịch hiệu quả hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh giao lưu văn hóa ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Trung Quốc, việc hiểu rõ về câu nhượng bộ sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.

II. Câu nhượng bộ trong tiếng Việt và tiếng Hán

Câu nhượng bộ trong tiếng Việttiếng Hán có những đặc điểm riêng biệt nhưng cũng tồn tại nhiều điểm tương đồng. Câu nhượng bộ được định nghĩa là một kết cấu phức hợp bao gồm hai mệnh đề, trong đó một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện. Trong tiếng Việt, câu nhượng bộ thường được hình thành với các liên từ như 'tuy', 'mặc dù', 'dù'. Ngược lại, trong tiếng Hán, các liên từ như '虽然' (suīrán) và '尽管' (jǐnguǎn) được sử dụng để thể hiện mối quan hệ nhượng bộ. Việc phân tích cấu trúc và chức năng của câu nhượng bộ trong hai ngôn ngữ sẽ giúp làm rõ cách thức mà người nói thể hiện ý nghĩa và cảm xúc của mình. Đặc biệt, trong tác phẩm “Báu vật của đời”, Mạc Ngôn đã sử dụng câu nhượng bộ một cách tinh tế, thể hiện sự phong phú trong ngôn ngữ và văn hóa của tiếng Hán.

2.1. Đặc điểm câu nhượng bộ trong tác phẩm Báu vật của đời

Trong tác phẩm “Báu vật của đời”, câu nhượng bộ được sử dụng để thể hiện những mối quan hệ phức tạp giữa các nhân vật và tình huống. Câu nhượng bộ không chỉ đơn thuần là một cấu trúc ngữ pháp mà còn mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc về tâm lý và cảm xúc của nhân vật. Việc phân tích câu nhượng bộ trong tác phẩm này sẽ giúp làm rõ hơn về cách mà Mạc Ngôn xây dựng nhân vật và tình huống. Câu nhượng bộ thường được đặt ở vị trí đầu câu, tạo ra sự nhấn mạnh cho mệnh đề chính, từ đó làm nổi bật ý nghĩa của câu. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả, đồng thời cũng phản ánh những đặc điểm văn hóa của văn học Hán.

III. Phương pháp chuyển dịch câu nhượng bộ

Việc chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng Hán sang tiếng Việt đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về ngữ pháp và ngữ nghĩa của cả hai ngôn ngữ. Các phương pháp chuyển dịch có thể được chia thành hai loại chính: chuyển dịch tương đương và chuyển dịch không tương đương. Chuyển dịch tương đương thường được áp dụng khi câu nhượng bộ trong tiếng Hán có cấu trúc và ý nghĩa tương tự trong tiếng Việt. Ngược lại, chuyển dịch không tương đương thường xảy ra khi không có sự tương đồng trực tiếp giữa hai ngôn ngữ, yêu cầu người dịch phải linh hoạt trong việc lựa chọn từ ngữ và cấu trúc câu. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp đảm bảo tính chính xác của bản dịch mà còn giữ được sắc thái văn hóa và cảm xúc của tác phẩm gốc. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc dịch các tác phẩm văn học, nơi mà ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện thể hiện văn hóa và tâm tư của tác giả.

3.1. Các thủ pháp chuyển dịch

Trong quá trình chuyển dịch câu nhượng bộ, các thủ pháp chuyển dịch đóng vai trò quan trọng. Một số thủ pháp phổ biến bao gồm: thay thế từ, điều chỉnh cấu trúc câu, và bổ sung hoặc lược bỏ thông tin. Thay thế từ thường được sử dụng khi có sự khác biệt về từ vựng giữa hai ngôn ngữ. Điều chỉnh cấu trúc câu là cần thiết để đảm bảo rằng câu dịch vẫn giữ được ý nghĩa và cảm xúc của câu gốc. Bổ sung hoặc lược bỏ thông tin có thể xảy ra khi một số yếu tố văn hóa không thể được chuyển dịch trực tiếp. Việc sử dụng các thủ pháp này một cách linh hoạt sẽ giúp tạo ra bản dịch tự nhiên và dễ hiểu cho người đọc, đồng thời vẫn giữ được bản sắc văn hóa của tác phẩm gốc.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu cách chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng hán sang tiếng việt trên tư liệu tác phẩm báu vật của đời của mạc ngôn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Câu nhượng bộ trong tác pham "Bau vật của đời" của bản tiếng Việt Chương 3: Cách chuyền dịch câu nhượng bộ từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Câu nhượng bộ tiếng Việt và những vấn đề liên quan 1. Khái niệm câu nhượng bộ Câu nhượng bộ là một kiểu câu rất phô biến, tần số xuất hiện rất cao tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ. Đã có nhiều định nghĩa về câu nhượng bộ.

Câu nhượng bộ là một kết cấu phức hợp bao gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện. Câu nhượng bộ là một kiểu câu vừa cơ bản vừa quan trọng trong ngôn ngữ tự nhiên, nó tồn tại hầu hết các ngôn ngữ như tiếng Hy Lạp cô đại, tiếng Latin, tiếng Hán, tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác nữa. Theo ngữ pháp truyền thống, đây là những câu phức mà cấu tạo gồm hai mệnh dé. Dé làm rõ hơn khái niệm cũng như các van đề chung liên quan đến câu nhượng bộ, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều ý kiến khác nhau của các tác giả và thống nhất sử dụng quan điểm về khái niệm câu nhượng bộ của Diệp Quang Ban.

Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu nhượng bộ là loại câu ghép. Đề làm rõ khái niệm câu nhượng bộ, chúng tôi xin bắt đầu từ câu ghép. Khái niệm câu phép: “câu ghép là câu do hai (hoặc hơn hai) câu đơn kết hợp với nhau theo kiểu không câu nào bao chứa câu nào, mỗi câu đơn trong câu ghép tự nó thoả mãn định nghĩa về câu. Có thé dùng tên gọi “dang câu” hay “về câu” dé chỉ câu nam trong câu ghép” Phân loại câu ghép: a.

Câu ghép chính phụ: La cau ghép có quan hệ ngữ pháp không bình đăng, thường gọi là quan hệ chính phụ, hay quan hệ phụ thuộc giữa hai về câu, về phụ phụ thuộc vào về chính. Về phụ là về chứa quan hệ từ phụ thuộc, quan hệ phụ thuộc đưa về phụ vào câu. Câu ghép chính phụ thường được phân loại thành những loại nhỏ như sau: 1. Câu ghép nguyên nhân 2.

Câu ghép điều kiện/giả thiết 3. Câu ghép nhượng bộ 4. Câu ghép mục đích b. Câu ghép đăng lập: Là câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các về câu là ngang hàng nhau, không về nào phụ thuộc vào về nào.

Câu ghép đăng lập được phân thành các tiểu loại như sau: 1. Câu ghép liên hợp (dùng quan hệ từ liên hợp) 2. Câu ghép tương liên (dùng cặp phó từ, đại từ hô ứng) 3. Câu ghép tiếp liên (không dùng quan hệ từ và cặp từ hô ứng) Như vậy, câu nhượng bộ thuộc câu ghép chính phụ, chính vì nó mang đầy đủ tính chất của câu ghép và câu ghép chính phụ.

Khái niệm câu nhượng bộ được tác giả Diệp Quang Ban đưa ra trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt như sau: “ Câu ghép nhượng bộ là câu ghép chính phụ mà ở đầu, về phụ có chứa các quan hệ từ diễn đạt quan hệ nhượng bộ như: tuy, mặc dầu, dù, thà.” Ví dụ: Tuy tôi đã nói nhiều lần, nhưng nó vẫn không nghe lời. KBR 7 Jie , ARERR EA. Một số điểm cần chú ý: + Trong kiểu câu này, về phụ đứng trước về chính thì sẽ tạo ra quan hệ nhân nhượng như ví dụ trên. + Nếu trật tự thay đôi ngược lại, tức là về chính đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc — nhượng bộ, và trong trường hợp này không được dùng từ “nhưng” đứng đầu về chính nữa.

Ví dụ nếu về chính được đưa lên trước về phụ thì câu sẽ có dạng: Nó không nói gì, tuy rằng nó biết rất rõ. Tình hình nghiên cứu câu nhượng bộ trong tiếng Việt Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, đã có rất nhiêu tác giả đã đề cập đến vấn đề câu nhượng bộ, các mức độ nông sâu của các nghiên cứu cũng không giống nhau. Sau đây chúng tôi xin điểm một số công trình nghiên cứu về câu nhượng bộ. Hoàng Tuệ đã nêu ra kết cấu “dầu P thì Q” là kiểu kết cấu của những câu phức hợp có quan hệ phụ thuộc nhượng bộ.

Và đưa ra nghĩa P và Q là hai mệnh đề với hai kết cau Đề - Thuyết.[ I6] Hoàng Trọng Phién(1980) sắp xếp câu nhượng bộ qua cách thé hiện quan điểm về ngữ nghĩa của các liên từ “tuy” và “mặc du”. Ông viết “mặc dù.” chỉ là giả thiết, diéu kiện và một tình hình nào đó, “.” không phải là giả thiết mà là sự thực.[19] Nguyễn Kim Thản(1997) xếp câu có liên từ “tuy”, “đù”, “mặc du” vào loại câu nhượng bộ. Ngoài ra ông chú ý thêm những vi từ tình thái đi kèm với các liên từ chỉ sự nhượng bộ như “vẫn”, “cũng”.[23| Nguyễn Tài Can(1999) chỉ ra trong câu nhượng bộ, nếu về phụ đứng trước về chính thì tạo ra quan hệ “nhượng bộ - tương phản”, ngược lại khi về phụ đứng sau về chính thì tạo ra quan hệ “sự việc - nhượng bộ”, trong trường hop này, về chính không sử dụng liên từ “nhưng”, “mà”. Trong câu nhượng bộ thông thường thì về chính đứng sau về phụ, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, chịu hạn chế của ngữ ảnh và dé biểu đạt chức năng, về chính cũng có thể đứng trước về phụ.[7] Diệp Quang Ban(2000) xếp câu nhượng bộ vào câu ghép chính phụ.

Dù anh có xấu xa cỡ nào, tôi vẫn yêu anh. Tôi van quyêt định ra di, dù mọi người đã can ngăn. Phân loại câu nhượng bộ tiếng Việt Nguyễn Chí Hòa dựa vào vị từ đã chia câu nhượng bộ thành 3 loại: a. Về phụ đứng đầu: Mặc dầu tôi đã hết sức mình, nhưng cũng không cứu được người đó.

MERCRREDA , wR SBA. Về phụ đứng giữa : Trông thấy chồng con thế dầu có ruột gan là sắt cũng phải đau đớn. Về phụ đứng cuối : Cô ta định sinh thêm đứa nữa, dù đã có ba đứa con. tb‡TS—B2+—^, S/Ab 5=).

Hồ Lê (Cú pháp tiếng Việt) phân loại như sau: Hồ Lê căn cứ vào tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mỗi quan hệ điều kiện-hệ qua dé phân loại. Theo đó, có bốn kiêu nhưng trong đó có ba kiểu là cầu trúc nhượng bộ như bảng sau: Bảng 1. bảng phân loại câu điều kiện của Hồ Lê Tiêu chí Phân loại Dạng thức của câu trúc Điều kiện giả định Dù(cho). Nội dung của điều kiện Điêu kiện hiện thực Tuy.

Tính chât của môi quan | Điêu kiện thuận hệ hệ điêu kiện-hệ quả quả(không phải câu | Vì. trúc nhượng bộ) Điều kiện nghịch hệ Tuy. quả Căn cứ bảng trên ta thấy cầu trúc nhượng bộ có điều kiện giả định và điều kiện hiện thực đều thuộc cấu trúc nhượng bộ có điều kiện nghịch hệ quả. Kết hợp hai tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của môi quan hệ điều kiện nghịch hệ quả ta thấy theo quan điểm của Hồ Lê thì cau trúc nhượng bộ có hai loại: 1.

Cấu trúc nhượng bộ có điều kiện giả định nghịch với hệ quả: dù cho. Cấu trúc nhượng bộ có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả: mặc dù.nhưng, tuy. Nguyễn Đức Dân phân loại như sau: Nguyễn Đức Dân gọi câu nhượng bộ là cau trúc nghịch nhân quả. Xuất phát từ tiêu chí trạng thái của các đối tượng xảy ra theo thứ tự thời gian được đề cập đến cấu trúc nhượng bộ, ông phân cấu trúc nghịch nhân quả làm hai loại: cầu trúc nghịch nhân quả sớm và cấu trúc nghịch nhân quả muộn.

Cụ thể như bảng dưới đây: Bang 1. Bảng tổng hop các dạng cấu trúc nghịch nhân quả của Nguyễn Đức Dân 10 Loại Kiêu Dạng thức của câu trúc Giải thích Tuy X còn A nhưng (mà) Y đã D Đối tượng X còn ở trạng thái A nhưng đối tượng Y đã chuyên sang trạng thái D. Sở dĩ có ý nghĩa Tuy X mới A nhưng (mà) Y đã D này là do sự Cau trúc kết hợp của nghịch nhân lên từ chỉ quả sớm nhượng bộ và kết cấu “con.” Đối tượng X chưa sang Tuy X chưa A nhưng (mà) Y đã D trạng thái A nhưng đối tượng Y đã 11 chuyển sang trạng thái D nhờ sự kiện liên kết giữa cau trúc nhượng bộ với két cau “chưa.” Đối tượng X đã chuyển sang trạng thái A nhưng đối tượng Y Tuy X đã A nhưng (mà) Y vẫn vẫn còn ở (còn) D trạng thái D nhờ sự kiện liên kết giữa cầu trúc nhượng bộ với két cau 12 “da.” Déi tuong X đã chuyén sang trạng thái A nhưng đối tượng Y vẫn còn chưa sang trạng Tuy X đã A nhưng (mà) Y van thái D nhờ sự (con) chua D kiện liên kết giữa cấu trúc nhượng bộ với kết cấu “đã.” theo quy luật thông thường Su kién B tat câu trúc yếu Sẽ xảy ra nghịch nhân Di/Dau A nhưng (mà) van B cho dù sự quả muộn kiện A là yếu tô cản trở. 13 Sự kiện B tất yêu Sẽ xảy ra cho dù sự - kiện A là yếu 7 Mặc dù A nhưng (mà) vẫn B ; to can tro.

Su kiện A va B déu da xay ra. Trong bảng trên đây, X và Y có thé là cùng một đối tượng hoặc cũng có thé là hai đối tượng. Nguyễn Vân Phé phân loại như sau: Kế thừa các thành tựu nghiên cứu về cấu trúc nhượng bộ của các nhà Việt ngữ và ngữ học nước ngoài một cách có chọn lọc, Nguyễn Vân Phổ đã có cách phân loại cau trúc nhượng bộ với hai dạng: - Cau trúc nhượng bộ “Mặc dù P, Q” - Cấu trúc điều kiện-nhượng bộ “Dù P thiQ” 1. Cơ sở lý luận của câu nhượng bộ tiếng Hán 1.1 Khái niệm câu ghép nhượng bộ tiếng Hán Khái niệm câu ghép được Vương Ứng Vỹ “Văn pháp tiếng Hán thực dụng” (1920) đưa ra, ông cho rằng bất kỳ 2 câu đơn trở lên nào ghép với nhau đều tạo thành câu ghép.

Người đầu tiên đưa ra khái niệm chính xác nhất là Lưu 14 Phục, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Trung” (1920) chỉ ra rằng: “Bất kỳ hai hoặc 2 phân câu hợp thành câu gọi là câu ghép”, những câu không có hình thức như thế là câu đơn. Việc xác định khái niệm về thuật ngữ này và cách sử dụng đối lập của câu đơn đã kết thúc trang thái mơ hồ khi xác định thuật ngữ này trước kia, hơn nữa nó còn có tác dụng lớn trong việc xác định lý luận ồn định về câu ghép tiếng Hán. Vương Lực “Ngữ pháp Trung Quốc hiện đại tiếng Hán” định nghĩa câu ghép: “ những câu được hình thành từ việc ngắt nghỉ câu khi đọc được gọi là câu ghép”. Ông là người đầu tiên chỉ ra đặc trưng quan trọng trong khi đọc phải ngừng nghỉ của câu ghép.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu chuyển dịch câu nhượng bộ từ tiếng Hán sang tiếng Việt trong tác phẩm của Mạc Ngôn" khám phá cách thức chuyển dịch các câu nhượng bộ từ tiếng Hán sang tiếng Việt, đặc biệt trong bối cảnh văn học của tác giả Mạc Ngôn. Tác giả phân tích các yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp ảnh hưởng đến quá trình dịch thuật, từ đó làm nổi bật những thách thức và cơ hội trong việc truyền tải ý nghĩa văn hóa giữa hai ngôn ngữ. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật dịch thuật mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự giao thoa văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ học và dịch thuật, hãy tham khảo thêm các tài liệu như Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng hán và tiếng việt, nơi bạn có thể tìm hiểu về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt hành động giữa hai ngôn ngữ. Ngoài ra, Luận văn hành động mời trong tiếng việt và tiếng hán sẽ giúp bạn khám phá thêm về các hành động giao tiếp trong văn hóa hai nước. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học hành động nhờ trong tiếng việt cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về ngôn ngữ học.