Đặt vấn đề Để đạt được mục đích chăn nuôi lợn phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay thì việc tạo ra nhiều giống mới, giống cải tiến. cho năng suất cao, tỷ lệ nạc nhiều, đồng thời phải tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và được cân bằng đầy đủ các thành phần dinh dưỡng phù hợp với mục đích sản xuất của từng loại lợn, các giai đoạn chăn nuôi lợn khác nhau, cũng như các hướng chăn nuôi khác nhau là vấn đề cần quan tâm giải quyết. Những năm gần đây, sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp đã và đang phát triển mạnh. Trong đó, nhiều cơ sở sản xuất thức ăn cho lợn như: Cargill, CP, Con cò.
đã khẳng định được chất lượng sản phẩm với người chăn nuôi, nhưng giá thành còn cao. Trong chăn nuôi, yếu tố dinh dưỡng có vai trò quyết định đến việc thành bại của nghề chăn nuôi vì thức ăn chiếm tới 75 – 80% tổng chi phí để sản xuất ra sản phẩm thịt. Cho nên muốn tăng hiệu quả kinh tế thì phải làm thế nào để chi phí đầu tư vào thức ăn thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng. Xuất phát từ thực tế đó, công ty thức ăn chăn nuôi Ngôi Sao Hy Vọng đã nghiên cứu và sản xuất ra dòng sản phẩm thức ăn mới cho lợn thịt.
Để có đánh giá khách quan và chính xác làm cơ sở khuyến cáo người dân sử dụng loại thức ăn mới của Công ty, chúng tôi đã thực hiện thí nghiệm: “So sánh ảnh hưởng của hai loại thức ăn Hopestar và CP đến khả năng sinh trưởng của lợn thịt nuôi tại Công ty TNHH Ngôi Sao Hy Vọng – Phổ Yên Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - So sánh ảnh hưởng của hai loại thức ăn khác nhau đến khả năng sinh trưởng của lợn thịt. e 2 - Đánh giá được chất lượng dòng sản phẩm thức ăn mới cho lợn thịt của công ty Ngôi Sao Hy Vọng. - Có cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi sử dụng loại thức ănđã lựa chọn được trong thí nghiệm.
- Bản thân tập làm quen với việc tổ chức và tiến hành nghiên cứu một chuyên đề khoa học. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đánh giá đươc chất lượng dòng sản phẩm thức ăn cho lợn mới của Công ty TNHH Ngôi Sao Hy Vọng. Ý nghĩa thực tiễn Có cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi sử dụng loại thức ăn đã lựa chọn được trong thí nghiệm (vì đây là một trong những thí nghiệm của công ty TNHH Ngôi sao Hy Vọng thử nghiệm thức ăn cho lợn thịt) e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và năng suất của lợn thịt 2. Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục của lợn Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ trong cơ thể. Đó là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng các bộ phận của toàn bộ cơ thể con vật trên cở sở bản chất di truyền của đời trước quy định(Trần Đình Miên, 1975) [11]. Trong chăn nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợn liên quan tới khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và hiệu quả chăn nuôi.
Các sinh vật sinh ra và lớn lên gọi là sự phát triển của sinh vật. Sinh vật sống biểu thị tính cảm ứng, tính sinh sản, tính phát triển, tính tạo ra năng lượng, tính hao mòn và chết. Đặc điểm của sinh vật là hấp thu, sử dụng năng lượng của môi trường xung quanh làm thành chất cấu tạo cơ thể của mình, để lớn lên và phát triển. Do vậy các giống gia súc khác nhau thì có quá trình sinh trưởng khác nhau, chủ yếu là quá trình tích luỹ protein.
* Đặc điểm sinh trưởng phát dục: Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục rất nhanh. Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng, khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần khi sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần. Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn. Tốc độ nhanh nhất là lúc 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống.
Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, thời gian bị giảm sinh trưởng thường kéo dài 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Do khả năng sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh e 4 dưỡng rất mạnh lợn con ở 20 ngày tuổi có thể tích lũy mỗi ngày 9 - 14g protein/kg khối lượng cơ thể (Trần văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004) [13]. * Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa: Cùng với sự tăng lên của khối lượng cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Sự phát triển thể hiện sự tăng nhanh dung tích dạ dày, ruột non, ruột già.
Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện do một số men tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh như: Pepsin, Maltaza, Saccraza. Nói chung lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ còn khả năng tiêu hóa các thức ăn khác kém. Trong dịch vị của lợn con mới đẻ trong khoảng 20 - 25 ngày thiếu HCl. Lợn con 3 - 4 tuần tuổi thì dạ dày chưa có HCl tự do, vì lúc này lượng HCl tiết ra ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch dạ dày.
Hiện tượng thiếu HCl này là đặc điểm quan trọng trong quá trình tiêu hóa ở dạ dày. Dịch vị thu được ở lợn con 7 ngày tuổi có độ pH: 2,8; ở 10 ngày tuổi có độ pH: 2,8 - 3,1; ở 12 ngày tuổi có pH: 2,7; ở 20 ngày tuổi có pH; 2,4 - 2,7. Như vậy là lượng HCl là rất ít tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật phát triển mạnh gây ra hội chứng tiêu chảy đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng (Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004) [13]. * Khả năng miễn dịch của lợn: Lợn con đẻ ra hầu như chưa có kháng thể, lượng kháng thể tăng lên nhanh sau khi bú sữa đầu.
Khả năng miễn dịch của lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu vào được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ. Do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi cơ thể chúng mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Vì vậy những lợn không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, tỷ lệ chết cao (Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004) [13].
e 5 Trong chọn tạo giống chăn nuôi lợn, hiểu được quá trình sinh trưởng, nhất là quá trình tạo nạc và mỡ sẽ giúp cho người chăn nuôi lợi dụng được các đặc tính sẵn có của lợn. Tốc độ tăng trưởng của gia súc thường khác nhau, tỷ lệ các phần mỡ, cơ, xương trên lợn cùng lứa tuổi có khối lượng khác nhau hay bằng nhau đều phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và các giai đoạn sinh trưởng của gia súc. Giai đoạn đầu từ sơ sinh đến 5 tháng tuổi.Trong giai đoạn này, lợn chủ yếu là tích luỹ cơ và khoáng chất, đặc biệt là sự phát triển của cơ.Mô cơ bao gồm một số sợi cơ nhất định liên kết với nhau thành bó, có vỏ liên kết bao bọc. Ở giai đoạn còn non, lợn có nhiều mô cơ liên kết và sợi cơ, nhưng càng lớn thì tỷ lệ cơ giảm.
Giai đoạn mới sinh thớ cơ mỏng, do đó bó cơ cũng như cấu trúc của thịt tốt, khi khối lượng cơ thể tăng theo tuổi thì sợi cơ dày thêm và bó cơ trở lên lớn hơn. Tuy nhiên đến giai đoạn cuối từ 60 - 70kg trở đi, khả năng tích luỹ cơ giảm dần, tốc độ tích luỹ mỡ tăng lên, mức độ tăng này tuỳ thuộc vào tốc độ tích luỹ mỡ dưới da, vì lượng mỡ dưới da chiếm 2/3 tổng số mỡ trong cơ thể (Jurgens, 1993) [17]. Theo Pfeifer và cs (1984) [23] cùng với sự tăng lên về khối lượng thì tỷ lệ vật chất khô và tỷ lệ mỡ cũng tăng lên, đồng thời tỷ lệ protein giảm nhẹ và tăng protein cao nhất đạt được ở khối lượng 40 - 70kg, sau đó giảm dần. Do vậy, ở lợn đang lớn, quá trình tổng hợp protein tăng dẫn đến làm tăng sự tạo thành nạc.
Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của vật nuôi cần định lượng chúng định kỳ bằng cân, đo các cơ quan, bộ phận hay toàn cơ thể con vật. Khoảng cách giữa các lần cân, đo này phụ thuộc vào loài vật nuôi và mục đích theo dõi. Thông thường để đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi thường đánh giá qua các chỉ tiêu: Khối lượng sơ sinh/ổ (kg); Khối lượng 21 ngày/ổ (kg); Khối lượng cai sữa/ổ (kg); Tăng trọng từ sơ sinh đến cai sữa (g); Tăng trọng từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (g).Đánh giá khả e 6 năng sinh trưởng của lợn thịt thường dùng các chỉ tiêu: Tuổi bắt đầu nuôi (ngày); Khối lượng bắt đầu nuôi (kg); Tuổi kết thúc nuôi (ngày); Khối lượng kết thúc nuôi (kg); Tăng trọng/ngày nuôi (g); Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (kg). Để đánh giá chất lượng thân thịt của lợn người ta sử dụng các chỉ tiêu về thân thịt và chất lượng thịt.
Đối với thân thịt, các chỉ tiêu quan trọng như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng và diện tích cơ thăn. Các chỉ tiêu chất lượng thịt bao gồm tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, cấu trúc cơ, mỡ dắt, pH của cơ thăn ở 45 phút và 24 giờ sau khi giết thịt (Reichart và cs, 2001) [24]. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng Tính trạng về khả năng sinh trưởng và cho thịt của vật nuôi nói chung và của lợn nói riêng được gọi chung là tính trạng sản xuất và chúng hầu hết là tính trạng số lượng do đó nó chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnh. * Ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền Các giống khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ số di truyền.