CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giới thiệu về Acid pak 4 way 1. Đặc điểm của Acid pak 4 way Acid pak 4 way là chế phẩm bột để pha vào nước uống có chứa bốn thành phần thiết yếu: acid hữu cơ, enzyme, chất điện giải và các vi khuẩn acid lactic.
Theo nghiên cứu của USAMV Cluj – Napoca (2006), việc bổ sung Acid pak 4 way vào nước uống nhằm làm pH của nước từ 6,44 giảm xuống dưới 4 và mức tốt nhất là từ 3 đến 3,5. Acid pak 4 way làm giảm pH nước bằng dung dịch đệm acid hữu cơ (acid citric và natri citrat). Thêm Acid pak 4 way vào nước uống cho gia cầm là phương pháp hiệu quả cho sự acid hóa, làm giảm pH nước đã làm gia cầm nhanh chóng giảm pH của chất chứa ở diều đến khoảng thích hợp nhất cho các hoạt động của vi sinh vật sản sinh acid lactic đồng thời hạn chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. Acid Way Pak 4 Way còn cung cấp acid hóa, vi khuẩn sản xuất acid lactic, enzyme và chất điện giải để duy trì điều kiện tối ưu cho tiêu hóa ở dạ dày và ruột non.
Hơn nữa, Acid pak 4 way còn làm gia tăng đáng kể magiê, clorua, photphat, sunfat, florua, natri, kali hữu cơ, sắt, mangan, kẽm, với các hiệu ứng thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của gia cầm. - Cơ chế tác động: Chất acid hóa trong Acid pak 4 way là một chất đệm acid citrat bao gồm acid citric và natri citrat. Thông qua hoạt động đệm của acid này Acid pak 4 way có thể làm giảm pH đến khoảng mong muốn, rồi giữ ở mức đó. - Hiệu quả của Acid pak 4 way: Tối ưu hóa mức độ pH; Hỗ trợ quần thể vi sinh vật đường ruột; Hỗ trợ hoạt động của enzyme và kích hoạt tiêu hóa; Duy trì cân bằng nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 4 - Đối tượng sử dụng: Lợn, gia cầm, bò thịt, nuôi trồng thủy càm, chăn nuôi ngựa, thú cưng. - Thành phần Acid pak 4 way: gồm 4 nhóm Nhóm 1: Các acid hữu cơ (acid citric, acid sorbic) Theo Van Immerseel và cs (2006) bổ sung các acid hữu cơ trong chế độ ăn uống có tác dụng giảm vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm như: Salmonella, Campylobacter và Escherichia coli. Nghiên cứu của Byrd và cs (2001) chỉ ra rằng việc bổ sung acid hữu cơ vào nước uống giúp giảm mức độ mầm bệnh trong nước, điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và cải thiện hiệu suất tăng trưởng. Các acid hữu cơ được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn nuôi gồm có formic, axetic, propionic, butyric, lactic, sorbic, fumaric, tartaric, citric, benzoic, malic và được chia làm 2 nhóm dựa theo đặc tính của chúng.
Nhóm thứ nhất gồm có: Lactic, fumaric, citric có đặc tính gián tiếp giảm thiểu số lượng vi khuẩn bằng cách giảm trừ độ pH trong dạ dày; trong khi đó, nhóm thứ hai gồm có: Formic, axetic, propionic và sorbic có đặc tính tác động trực tiếp làm giảm độ pH trong đường tiêu hóa trên tế bào của vi khuẩn Gram. Theo nghiên cứu của Kum và cs (2010): Bổ sung acid hữu cơ (1,0% acid sorbic và 0,2% acid citric) giúp tăng đáng kể chiều rộng, chiều cao và diện tích của tá tràng, không tràng và hồi tràng của gà thịt lúc 14 ngày tuổi. Acid citric (C6H8O7) Acid citric là một acid hưu cơ, có nhiều trong các trái cây loại cam quýt. Ngoài, acid citric còn được sản xuất từ cây nấm Aspergillus niger.
việc bổ sung acid citric vào khẩu phần ăn của gà broiler làm tăng hiệu quả tiêu hóa thức ăn, khối lượng thân thịt và chất lượng thịt. Ngoài ra, bổ sung acid citric còn làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ khoáng đa lượng, tăng độ cứng của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 5 khung xương gà. Bổ sung acid citric vào khẩu phần ăn của gà broiler còn làm giảm pH của thức ăn, cải thiện tình trạng miễn dịch, nâng cao khả năng đề kháng bệnh của gà broiler. Sơ đồ hóa học của sự sản xuất acid citric bằng nấm Aspergillus niger (Adams Charlie, 1990) Acid sorbic (C6H8O2) Acid Sorbic hay acid 2,4–hexadienoic, là một hợp chất hữu cơ tự nhiên được sử dụng làm chất bảo quản thực phẩm.
Acid Sorbic là một chất rắn dạng bột tinh thể, màu trắng, ít tan trong nước. Nó lần đầu tiên được phân lập từ các quả chưa chín của Sorbus aucuparia (cây thanh lương trà), và được lấy tên là acid Sorbic. Acid Sorbic và các muối của nó, chẳng hạn như natri sorbate, kali sorbate và canxi sorbate là những chất chống vi trùng thường được sử dụng làm chất bảo quản trong thực phẩm và đồ uống để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc, nấm men, nấm và vi khuẩn Aerophile, cản trở việc tăng trưởng và sinh sản của các vi sinh vật độc hại như Pseudomonas. Acid sorbic kéo dài thời gian lưu trữ thực phẩm mà vẫn lưu giữ được hương vị ban đầu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 6 Tác dụng của acid hữu cơ Acid citric và acid sorbic được sử dụng nhiều trong thức ăn chăn nuôi gia cầm nhờ khả năng cải thiện tiêu hóa và khả năng kháng khuẩn. Acid citric thường được sử dụng trong khẩu phần ăn của gia cầm để thúc đẩy tăng trưởng bằng cách acid hóa các thành phần đường tiêu hóa, cải thiện khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng và giảm tải mầm bệnh. Acid sorbic là một hợp chất xuất hiện tự nhiên, mà trở thành chất bảo quản thực phẩm được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Nó có hiệu quả cao trong việc ức chế sự phát triển của nấm mốc, có thể làm hỏng thức ăn và lây lan các bệnh gây tử vong.
Khi nói đến thực phẩm của con người, acid sorbic được sử dụng phổ biến nhất trong: Rượu vang, pho mát, đồ nướng, sản phẩm tươi, thịt và động vật có vỏ. Acid Sorbic được sử dụng để bảo quản thịt vì khả năng kháng sinh tự nhiên của nó. Sự ứng dụng của acid sorbic lần đầu tiên là chống lại một trong những chất độc chết người nhất được biết đến với loài người, vi khuẩn Clostridium botulinum, có thể gây ngộ độc. Việc sử dụng nó đã cứu sống vô số người bằng cách ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn đồng thời cho phép thịt được vận chuyển và lưu trữ an toàn.
+ Trong đường tiêu hóa - Giảm pH trong dạ dày, đặc biệt ở ruột non, cải thiện việc giữ lại nitơ và làm tăng khả năng tiêu hóa. - Phân ly trong tế bào vi khuẩn và sự tích lũy các anion muối ức chế sự phát triển của những vi khuẩn gram (–). Các vi khuẩn như Salmonella, E. Coli bị ức chế hoạt động khi pH < 5, các acid hữu cơ xâm nhập qua màng tế bào vi khuẩn, phân ly trong tế bào chất làm thay đổi hoạt động của các enzym và trao đổi chất của tế bào, do đó ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 7 + Trao đổi chất Các acid hữu cơ và muối của chúng được xem là nguồn cung cấp năng lượng thô trong thức ăn của vật nuôi: acid citric (2.460 kcal/kg), acid formic (1. Nhóm 2: Các chất khoáng (NaCl, ZnSO4, MgSO4, K) NaCl, Kali: Tăng tính ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu protein, giúp ổn định độ toan kiềm của máu, tham gia vào hệ đệm của máu, giữ áp suất thẩm thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và hô hấp, giúp cho các dây thần kinh và cơ bắp hoạt động đúng chức năng, giảm stress do nhiệt. ZnSO4: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit. Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa.
Magie sulfate: Là thành phần của xương và răng. Đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống thần kinh và cơ, nằm trong thành phần 1 số enzyme. Điều hòa phản ứng photphoryl – oxy hóa, tham gia vào điều hòa thân nhiệt. Nhóm 3: Các chiết suất men được sấy khô (chiết xuất men Aspergillus niger, chiết xuất men Bacillus subtilis, sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus và chiết xuất men Enterococcus faecium đều được sấy khô).
Chiết xuất men Aspergillus niger được sấy khô + Phân bố nhiều trong tự nhiên (đất, xác bã thực vật, hoa quả và đặc biệt nhiều ở vùng khí hậu ấm áp). Là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh, không có khả năng quang hợp, sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có sẵn quan bề mặt khuẩn tỵ. + Có khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau như: Glucose, fructose,. từ đó tham gia quá trình sản xuất acid citric.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 8 Chiết xuất men Bacillus subtilis được sấy khô + B.subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn Gram (–), Gram (+) và nấm gây bệnh.subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy. Ở ruột, bào tử nẩy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài. Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô Tác dụng lactobacillus trong chăn nuôi là dùng để sản xuất men và chất diệt khuẩn lactocidin, ức chế sinh trưởng số lượng vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho vật nuôi. Tăng cường kháng sinh tự nhiên và hệ miễn dịch đường ruột.
Khả năng tạo acid của Lactobacillus acidophilus khoảng 2%. Chiết xuất men Enterococcus faecium sấy khô + Là tăng cường enzyme tiêu hóa chất hữu cơ như tinh bột, đường, kích thích tiêu hóa cho vật nuôi. + Trong quá trình kích thích tiêu hóa, vật nuôi hạn chế rơi vào tình trạng rối loạn tiêu hóa do thức ăn, mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột do rối loạn tiêu hóa, ngăn ngừa dấu hiệu tiền bệnh của những loại bệnh đường tiêu hóa.