Sinh Kế Bền Vững Trong Bối Cảnh Biến Đổi Khí Hậu Tại Xã Phù Long Và Trân Châu, Huyện Cát Hải

Luận văn thạc sĩ phân tích sinh kế bền vững tại xã Phù Long và Trân Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sinh Kế Bền Vững Trong Bối Cảnh Biến Đổi Khí Hậu

Sinh kế bền vững là một khái niệm quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH). Tại huyện Cát Hải, việc áp dụng các phương pháp sinh kế bền vững không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. BĐKH đang tạo ra nhiều thách thức cho sinh kế của người dân, đặc biệt là trong các lĩnh vực nông nghiệp và du lịch. Việc nghiên cứu và phát triển các giải pháp sinh kế bền vững là cần thiết để đảm bảo sự phát triển lâu dài cho khu vực này.

1.1. Khái Niệm Sinh Kế Bền Vững Và Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu

Sinh kế bền vững được định nghĩa là khả năng của các cộng đồng trong việc duy trì và cải thiện sinh kế của họ trong bối cảnh BĐKH. Tác động của BĐKH đến sinh kế bao gồm sự thay đổi trong sản xuất nông nghiệp, nguồn nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.

1.2. Vai Trò Của Sinh Kế Bền Vững Trong Phát Triển Kinh Tế Đảo

Sinh kế bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đảo Cát Hải. Nó không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

II. Thách Thức Đối Với Sinh Kế Bền Vững Tại Cát Hải

Huyện Cát Hải đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn từ BĐKH. Mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của người dân. Các hoạt động kinh tế truyền thống như nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đang bị đe dọa, dẫn đến sự cần thiết phải tìm kiếm các giải pháp thích ứng hiệu quả.

2.1. Tác Động Của Mực Nước Biển Dâng Đến Sinh Kế

Mực nước biển dâng đang gây ra tình trạng ngập úng tại nhiều khu vực ven biển, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Điều này làm giảm thu nhập và sinh kế của người dân.

2.2. Thiên Tai Và Biến Đổi Khí Hậu Thách Thức Đối Với Người Dân

Các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt ngày càng gia tăng do BĐKH, gây thiệt hại lớn cho cơ sở hạ tầng và sinh kế của người dân. Sự thiếu hụt thông tin và nguồn lực để ứng phó với thiên tai là một thách thức lớn.

III. Các Giải Pháp Phát Triển Sinh Kế Bền Vững Tại Cát Hải

Để phát triển sinh kế bền vững tại huyện Cát Hải, cần áp dụng các giải pháp thích ứng với BĐKH. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, phát triển du lịch bền vững và bảo vệ môi trường. Việc kết hợp các giải pháp này sẽ giúp nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước các tác động của BĐKH.

3.1. Cải Thiện Kỹ Thuật Nông Nghiệp Để Thích Ứng Với BĐKH

Cải thiện kỹ thuật sản xuất nông nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng. Việc áp dụng các phương pháp canh tác bền vững sẽ giúp tăng năng suất và giảm thiểu tác động của BĐKH.

3.2. Phát Triển Du Lịch Bền Vững Nhằm Tăng Thu Nhập

Phát triển du lịch bền vững có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Các hoạt động du lịch sinh thái và văn hóa sẽ thu hút du khách và tạo cơ hội việc làm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Cát Hải

Nghiên cứu về sinh kế bền vững tại Cát Hải đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp thích ứng với BĐKH có thể mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng. Các mô hình sinh kế bền vững đã được triển khai và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc cải thiện đời sống người dân.

4.1. Mô Hình Sinh Kế Bền Vững Tại Xã Phù Long

Mô hình sinh kế bền vững tại xã Phù Long đã giúp người dân cải thiện thu nhập thông qua việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới và phát triển du lịch.

4.2. Kết Quả Đánh Giá Tác Động Của Các Giải Pháp

Kết quả đánh giá cho thấy các giải pháp đã giúp tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước BĐKH, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Sinh Kế Bền Vững Tại Cát Hải

Sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH tại Cát Hải là một vấn đề cấp thiết. Việc nghiên cứu và triển khai các giải pháp thích ứng là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho khu vực này. Tương lai của sinh kế bền vững phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các bên liên quan và sự hỗ trợ từ chính phủ.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Hợp Tác Trong Phát Triển Sinh Kế

Hợp tác giữa các tổ chức, chính quyền và cộng đồng là yếu tố quyết định trong việc phát triển sinh kế bền vững. Sự tham gia của cộng đồng sẽ giúp tăng cường hiệu quả của các giải pháp.

5.2. Định Hướng Phát Triển Sinh Kế Bền Vững Trong Tương Lai

Định hướng phát triển sinh kế bền vững trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH và các giải pháp thích ứng. Điều này sẽ giúp xây dựng một tương lai bền vững cho huyện Cát Hải.

27/06/2025
Luận văn thạc sĩ sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã phù long và trân châu huyện cát hải thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thế giới hiện nay đang đối mặt với rất nhiều cuộc khủng hoảng. Đó là: khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng năng lượng, suy thoái tài nguyên, và một trong những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất, diễn ra trên phạm vi toàn cầu là cuộc khủng hoảng khí hậu – hay còn gọi là biến đổi khí hậu( BĐKH). BĐKH với biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng… đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng nhất của nhân loại trong thế kỉ 21.

BĐKH tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống của con người: sức khỏe, kinh tế, xã hội, môi trường.Song tùy từng vị trí địa lý, tình hình phát triển, mức độ thích ứng cụ thể của từng địa phương, từng quốc gia mà mức độ ảnh hưởng của BĐKH sẽ ít hay nhiều. Việt Nam là một quốc gia với đường bờ biển dài hơn 3260km, có 28 tỉnh, thành nằm ven biển, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thô để xuất khẩu, đặc biệt là nguồn tài nguyên biển. Vì vậy nên đây là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của tình trạng BĐKH đang diễn ra hiện nay( WB 2007). Một trong hai địa điểm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH theo kịch bản BĐKH mới nhất năm 2016 chính là đồng bằng sông Hồng (ĐBSH).

Khu vực này được dự báo theo kịch bản năm 2016 là mực nước biển dâng sẽ làm mất đi trên 10% diện tích. Trong đó phải kể đến dải ven biển ( DVB ) với chiều dài 3260km đường bờ biển. WB năm 2007 đã dự đoán rằng khu vực DVB chính là nơi chịu nhiều tác động nặng nề nhất của BĐKH mà trực tiếp chính là tình trạng mực nước biển dâng, thiên tai, lũ lụt, những hậu quả về môi trường…Họ tính rằng, nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì Việt Nam sẽ đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm ( tương đương 10% GDP ), 1/5 dân số mất nhà cửa, 12,3% diện tích đất trồng trọt biến mất, 40.000km2 diện tích đồng bằng( 39% ĐBSCL và 10% ĐBSH)…Hải Phòng – một thành phố thuộc khu vực ĐBSH và nằm trên DVB của nước ta. Cũng như các khu vực ven biển khác, nơi đây cũng được đánh giá là khu vực chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng BĐKH tiêu biểu như nhiệt độ tăng, nước 1 biển dâng, và sự gia tăng các hiện tượng thiên tai cực đoan.

Và khu vực đang phải hứng chịu nguy cơ ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của thành phố chính là huyện đảo Cát Hải, một trong 12 huyện đảo của Việt Nam. Hình 1: Kịch bản biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng 2016 ( Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu Với diện tích khoảng hơn 300km2, địa hình nơi đây tương đối phức tạp, rừng núi chiếm 2/3 diện tích của huyện đảo. Huyện có 2 đảo hợp thành là đảo Cát Hải và quần đảo Cát Bà. Huyện có 336 hòn đảo trong đó đảo Cát Bà là đảo lớn nhất.

Cát Hải có 10 xã và 2 thị trấn. Huyện có gần 31 ngàn người dân sinh sống( 2012 ). Với vị trí nằm tách biệt giữa biển, huyện đảo không chỉ gặp những khó khăn về sự chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội giữa đất liền và hải đảo, giữa miền đồng bằng và miền biển mà còn phải đối mặt với các điều kiện thời tiết, thiên tai rất phức tạp khiến cho cuộc sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Không chỉ dừng ở đây, hiện nay đảo Cát Bà đang đồng thời đối mặt với các rủi ro của BĐKH và những thay đổi thực sự trong quy hoạch sử dụng đất của chính phủ, của thành phố với dự kiến biến một vùng dân cư có sinh kế truyền thống là nông nghiệp và 2 thủy sản trở thành khu cảng công nghiệp – dịch vụ trong tương lai.

Chính sự thay đổi to lớn này đã làm tăng cường thêm sự khó khăn trong sinh kế của người dân trên đảo Cát bà nói chung và 2 xã Phù Long và Trân Châu nói riêng. Hiện vẫn chưa có các nghiên cứu đánh giá về tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái tự nhiên, xã hội và kinh tế của 2 xã trên cũng như vẫn thiếu các giải pháp cụ thể cho phát triển sinh kế của người dân đảo trong giai đoạn có nhiều sự chuyển đổi mạnh mẽ này. Trong khi đó, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu: “đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển…” , trong đó nhấn mạnh việc ưu tiên phát triển kinh tế cho người dân hải đảo trong bối cảnh BĐKH. Như vậy, nếu có các nghiên cứu đánh giá tác động BĐKH và các đề xuất phù hợp cho sinh kế, huyện đảo Cát Hải sẽ có thêm cơ hội và tranh thủ được nguồn lực từ các chương trình, dự án quốc gia ưu tiên cho vùng biển đảo.

Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ phát triển bền vững là: “ Sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã Phù Long và Trân Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng”. Tình hình nghiên cứu đề tài 2.1 Nghiên cứu trên thế giới Trong thế kỉ 21, BĐKH đã trở thành vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm không riêng gì quốc gia nào.Lần đầu tiên, vào năm 1896 vấn đề BĐKH đã được Arrhenius, nhà khoa học người Thụy Điển đề cập đến. Cuối thập niên 1980, tổ chức IPCC - Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH ra đời cùng với Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật và KT-XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con người gây ra” (IPCC, 2007). Kể từ đó đến nay, nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại các quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam.

Những nghiên cứu và triển khai về BĐKH trong thời gian qua đã được phân tích và tổng kết trong 5 báo cáo của IPCC (Báo cáo lần 1, 1990; Báo cáo lần 2, 3 1999; Báo cáo lần 3, 2001; Báo cáo lần 4, 2007; và, báo cáo lần 5, 2013). Trong đó, báo cáo lần thứ 4 (2007) đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình cùng với Al Gore. Trong báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007), các nhà khoa học đã kết luận những biến đổi trong khí quyển, đại dương và các sông băng, núi băng chứng tỏ thế giới đang nóng lên và các hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu. Cũng theo báo cáo này, việc tăng đáng kể nồng độ các khí nhà kính CO2, CH4 và N2O kể từ năm 1750 đến nay chính là hậu quả từ các hoạt động của con người.

Nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái Đất đã tăng khoảng 0,740C trong 100 năm qua (1906 - 2005). Con số này cao hơn so với báo cáo năm 2001 với mức 0,60C do những năm gần đây liên tục có những đợt nóng cực điểm. Cho đến năm 2014, IPCC đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, sự tăng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương.), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng KT-XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu. Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP 1 đến COP 23).

Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể. Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007) [36]. Tháng 9 năm 2013, IPCC đã công bố tóm tắt Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5-WG1) về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn vật lý cơ bản, do Nhóm công tác số 1 thuộc IPCC soạn thảo (Kỷ Quang Vinh, 2013) [73]. Theo tài liệu này, trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ năm 1850 (xem hình 1.

Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1. 4 Hình 2(a): Nhiệt độ trung bình bề mặt của đất và đại dƣơng toàn cầu giai đoạn từ 1850 đến 2012; và (b) Thay đổi mực nƣớc biển trung bình toàn cầu giai đoạn 1901 – 2012 Nguồn: “Giới thiệu Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của IPCC và Một số thông tin liên quan” –Kỷ Quang Vinh, Văn phòng công tác BĐKH Cần Thơ. BĐKH không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh tế, xã hội của nhân loại. Xét về những tổn thất kinh tế, chi phí tiền bạc cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai do BĐKH đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia.

Theo Báo cáo Stern (của chuyên gia kinh tế Nicolas Stern và cộng sự) thì, trong vòng 10 năm tới, “chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định KNK ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP” (Nicholas Stern, 2007) [92]. Được biết, tổng GDP toàn thế giới năm 2013 là 8,5 ngàn tỷ đô la (Ngân hàng thế giới, 2013) [44]. Như vậy, mỗi năm các công dân Trái đất phải chịu tổn thất kinh tế hàng tỷ đô cho việc khắc phục thiệt hại do BĐKH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sinh Kế Bền Vững Trong Bối Cảnh Biến Đổi Khí Hậu Tại Cát Hải" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chiến lược và phương pháp nhằm phát triển sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đối với cộng đồng địa phương, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các mô hình sinh kế bền vững, giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức phát triển kinh tế mà vẫn bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê trên địa bàn huyện ba vì tỉnh hà tây, nơi đề cập đến phát triển nông nghiệp bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận văn phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại thị xã cửa lò tỉnh nghệ an cũng sẽ cung cấp thêm góc nhìn về phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển cụm làng nghề ở hà nội, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phát triển kinh tế địa phương thông qua các làng nghề truyền thống. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh của sinh kế bền vững.