Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km đi qua 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và là một trong năm quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016 dự báo nếu mực nước biển dâng thêm 1 m, nước ta sẽ đối mặt với thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 17 tỷ USD mỗi năm, tương đương 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), khiến khoảng 20% dân số mất chỗ ở và làm biến mất 12,3% diện tích đất trồng trọt cùng 40.000 km² vùng đồng bằng. Tại thành phố Hải Phòng, huyện đảo Cát Hải với diện tích 345 km² và dân số xấp xỉ 31.000 người là khu vực tuyến đầu chịu tác động dữ dội từ hiện tượng nước biển dâng, bão nhiệt đới và triều cường.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là cộng đồng dân cư tại hai xã Phù Long và Trân Châu đang chịu áp lực kép: vừa phải đối mặt với các hiểm họa thiên tai cực đoan, vừa trải qua quá trình biến động mạnh mẽ về quy hoạch sử dụng đất khi địa phương chuyển dịch từ kinh tế nông - ngư nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp cảng biển và dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng quy mô lớn.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế bền vững, phân tích toàn diện thực trạng các nguồn vốn sinh kế, nhận diện mức độ tổn thương của người dân dưới tác động của biến đổi khí hậu và quy hoạch mới, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực thích ứng sinh kế cho cộng đồng địa phương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại xã Phù Long và xã Trân Châu thuộc huyện đảo Cát Hải trong giai đoạn 2016 - 2018, đồng thời hồi cứu chuỗi số liệu khí tượng thủy văn trong 30 năm gần đây. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách chuyển đổi nghề nghiệp, giảm thiểu 30% rủi ro sinh kế và nâng cao chỉ số chống chịu khí hậu cho hơn 1.200 hộ dân vùng biển đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững do Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) ban hành, kết hợp chặt chẽ với phương pháp tiếp cận thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) và tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA). Mô hình phân tích tập trung khảo sát năm nguồn vốn sinh kế thiết yếu gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội. Hệ thống lý luận làm sáng tỏ bốn khái niệm nền tảng:

  • Biến đổi khí hậu: Sự biến đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ do tác động tự nhiên và hoạt động phát thải khí nhà kính của con người.
  • Tính dễ bị tổn thương: Mức độ mà một hệ thống sinh thái hoặc kinh tế - xã hội dễ chịu tổn thương và không có khả năng chống đỡ trước tác động bất lợi của khí hậu cực đoan theo định nghĩa của IPCC năm 2007.
  • Tính chống chịu - thích ứng: Khả năng của hệ thống tự nhiên và xã hội trong việc hấp thụ các cú sốc, duy trì cấu trúc chức năng và tự phục hồi sau thiên tai.
  • Sinh kế bền vững: Hệ thống phương tiện kiếm sống có thể duy trì, gia tăng tài sản mà không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời có đủ năng lực ứng phó và phục hồi trước các biến cố môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ trạm khí tượng Phù Liễn, trạm hải văn Hòn Dáu cùng báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải giai đoạn 1980 - 2016, phối hợp với nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua ba đợt điều tra thực địa trong giai đoạn 2016 - 2018.

Tổng cỡ mẫu khảo sát bao gồm 90 phiếu điều tra bảng hỏi cấu trúc, được chia thành hai nhóm chính: 20 phiếu dành cho cán bộ quản lý cấp huyện và cấp xã; 70 phiếu phân bổ cho các hộ dân tại hai địa bàn nghiên cứu, trong đó xã Phù Long chiếm 39 phiếu (tương đương 54,5%) và xã Trân Châu chiếm 31 phiếu (tương đương 45,6%).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nghiêm ngặt theo các tiêu chí: 50% nhóm hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo, 50% nhóm hộ có mức sống từ trung bình trở lên; tối thiểu 33,3% người tham gia là phụ nữ; cơ cấu độ tuổi gồm 40% người từ 50 đến 70 tuổi, 40% người từ 35 đến 49 tuổi, 20% người từ 22 đến 34 tuổi; đồng thời phỏng vấn sâu đại diện 8 học sinh phổ thông và người khuyết tật trên mỗi địa bàn.

Nghiên cứu sử dụng 6 công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) gồm: quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu bán cấu trúc, dòng lịch sử hiểm họa, lịch thời vụ và thiên tai, sơ đồ Venn và phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ma trận 5x5 của bộ chỉ số chống chịu rủi ro thiên tai khí hậu (CDRI) và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel là nhằm định lượng hóa chính xác 25 chỉ tiêu thuộc năm lĩnh vực hạ tầng, kinh tế, xã hội, tự nhiên và thể chế, giúp đánh giá khách quan mối tương quan giữa năng lực nội tại của cộng đồng và các cú sốc khí hậu bên ngoài.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chuỗi số liệu khí tượng thủy văn cho thấy nhiệt độ trung bình nhiều năm tại trạm Phù Liễn có xu hướng tăng từ 0,5 đến 0,74 độ C, biên độ nhiệt mùa đông biến động mạnh và mực nước biển tại trạm Hòn Dáu tăng trung bình 2,8 mm/năm. Các đợt rét đậm, rét hại kéo dài cùng hiện tượng nắng nóng gay gắt trên 38 độ C xuất hiện với tần suất dày đặc hơn.

Kết quả điều tra 70 hộ dân tại hai xã cho thấy sinh kế nuôi trồng và khai thác thủy sản chịu mức độ tổn thương nặng nề nhất. Có đến 68,5% số hộ nuôi ngao, tu hài và cá lồng bè tại xã Phù Long ghi nhận hiện tượng thủy sản chết hàng loạt do sốc nhiệt và độ mặn thay đổi đột ngột sau mưa lớn, gây thiệt hại trung bình từ 45 đến 120 triệu đồng mỗi hộ/năm. Trong khi đó, tại xã Trân Châu, diện tích đất canh tác nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể, với 42,8% hộ trồng trọt phản ánh tình trạng thiếu nước tưới cục bộ và xâm nhập mặn tầng nước ngầm trong mùa khô.

Cơ cấu nguồn vốn sinh kế bộc lộ sự mất cân đối sâu sắc. Về vốn tài chính, 55,7% hộ khảo sát không có tích lũy tiền mặt và phải vay vốn với lãi suất cao từ các kênh phi chính thức khi gặp rủi ro thiên tai. Về vốn vật chất, hệ thống đê bao nuôi trồng thủy sản tại Phù Long có 35% chiều dài chưa được kiên cố hóa, dễ bị triều cường phá hủy.

Bên cạnh đó, quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái và tuyến cáp treo Cát Hải - Cát Bà đã thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao động: tỷ lệ lao động làm nông nghiệp thuần túy giảm từ 48% năm 2010 xuống còn 28,5% năm 2016, nhường chỗ cho nhóm lao động làm thuê tự do và dịch vụ du lịch mùa vụ chiếm 38,2%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tính dễ bị tổn thương cao của cộng đồng xuất phát từ việc sinh kế người dân phụ thuộc quá lớn vào tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với khí hậu, trong khi hạ tầng kỹ thuật phòng chống thiên tai tại chỗ còn lạc hậu. Các phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo trong Báo cáo đánh giá lần thứ năm của IPCC (2014) và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về tổn thất sinh kế ven bờ.

Dữ liệu ma trận CDRI cho thấy chỉ số thể chế và chính sách tại hai xã đạt mức trung bình khá (3,2/5 điểm), nhưng chỉ số năng lực tài chính và cơ sở hạ tầng chỉ đạt mức thấp (từ 2,1 đến 2,4/5 điểm). Điều này phản ánh rõ nét khoảng cách giữa các chính sách hỗ trợ từ trên xuống và khả năng tiếp cận thực tế của người dân ở cơ sở.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu về mức độ tổn thương được biểu diễn thông qua bản đồ phân vùng rủi ro ngập lụt GIS ứng với kịch bản nước dâng 1 m, kết hợp bảng ma trận tương quan giữa 5 nguồn vốn sinh kế và biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thu nhập hộ gia đình. Các biểu đồ này minh chứng rõ nét rằng đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp kết hợp bảo tồn rừng ngập mặn là con đường tối ưu để giảm thiểu rủi ro kinh tế trước thiên tai cực đoan.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tăng cường năng lực chống chịu và phát triển sinh kế bền vững cho người dân tại xã Phù Long và Trân Châu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng sang nuôi xen ghép sinh thái dưới tán rừng ngập mặn kết hợp nuôi cá lồng bè vật liệu mới chịu sóng gió. Mục tiêu đặt ra là giảm 40% tỷ lệ rủi ro dịch bệnh do sốc nhiệt, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm thêm 25% cho khoảng 350 hộ nuôi trồng trong giai đoạn 2018 - 2022, do Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải chủ trì phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện.
  • Phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồng gắn với nông nghiệp trải nghiệm và tri thức bản địa tại xã Trân Châu. Mục tiêu chuyển đổi việc làm bền vững cho 30% lao động nông nhàn, tăng thu nhập bình quân đầu người thêm 15% mỗi năm trong giai đoạn 2019 - 2025, do Sở Du lịch Hải Phòng phối hợp cùng Hội Nông dân và các doanh nghiệp lữ hành triển khai.
  • Thiết lập quỹ quay vòng vốn tài chính vi mô và chuyển giao gói kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước thích ứng hạn mặn. Mục tiêu đảm bảo 100% hộ nghèo, cận nghèo và phụ nữ làm chủ hộ được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp dưới 6%/năm trong giai đoạn 2018 - 2023, do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Cát Hải phối hợp với Hội Phụ nữ quản lý.
  • Nâng cấp đồng bộ hạ tầng cơ sở và hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất tích hợp rủi ro khí hậu. Mục tiêu kiên cố hóa 100% các đoạn đê bao xung yếu, xây dựng 2 trạm cảnh báo sớm thiên tai và bảo vệ nghiêm ngặt 1.500 ha rừng đặc dụng, rừng ngập mặn trước năm 2025, do Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng chỉ đạo thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải. Tài liệu cung cấp căn cứ thực tiễn để lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch sử dụng đất cấp cơ sở.
  • Giới học thuật, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Phát triển bền vững, Khoa học môi trường, Kinh tế nông nghiệp và Xã hội học có thể khai thác khung phương pháp luận phối hợp giữa DFID, EbA, CBA và bộ chỉ số CDRI làm tài liệu mẫu cho các nghiên cứu sinh kế biển đảo.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Điển hình như các dự án của UNESCO, MCD, CARE, UNDP tại Việt Nam. Báo cáo cung cấp bộ dữ liệu khảo sát cộng đồng chi tiết phục vụ thiết kế các dự án tài trợ sinh kế thích ứng và bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà.
  • Cộng đồng cư dân địa phương và các chủ thể kinh doanh du lịch, nông - ngư nghiệp: Hợp tác xã, hộ gia đình tại các vùng ven biển có thể ứng dụng trực tiếp các mô hình nuôi trồng xen ghép sinh thái và kinh doanh du lịch cộng đồng nhằm giảm nhẹ rủi ro thiên tai và tăng nguồn thu ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Khung sinh kế bền vững của DFID được áp dụng như thế nào trong luận văn?

Khung DFID được sử dụng làm công cụ phân tích xuyên suốt nhằm đánh giá hiện trạng 5 nguồn vốn sinh kế tại 70 hộ gia đình thuộc hai xã. Kết quả cho thấy nguồn vốn tự nhiên và xã hội là điểm tựa lớn nhất của người dân, trong khi nguồn vốn tài chính và vật chất là hai mắt xích yếu nhất cần sự can thiệp từ chính sách công.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến lĩnh vực nào tại đảo Cát Hải?

Nuôi trồng thủy sản chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với hơn 68% số hộ bị thiệt hại kinh tế do hiện tượng nhiệt độ tăng cao bất thường và nước biển dâng làm biến động nồng độ mặn. Tiếp đó là ngành trồng trọt tại xã Trân Châu bị đe dọa bởi tình trạng thiếu hụt nguồn nước ngọt ngầm và hiện tượng hạn hán kéo dài.

Tại sao cần kết hợp cách tiếp cận từ dưới lên và từ trên xuống trong nghiên cứu?

Cách tiếp cận từ dưới lên giúp huy động tối đa tri thức bản địa và phản ánh trung thực nhu cầu của 90 đối tượng điều tra. Khi kết hợp với định hướng quy hoạch từ trên xuống của chính quyền thành phố, các giải pháp sinh kế đề xuất sẽ đảm bảo tính khả thi cao, vừa hợp lòng dân vừa phù hợp với khung pháp lý phát triển kinh tế.

Bộ chỉ số CDRI và ma trận 5x5 đóng vai trò gì trong việc đánh giá tính chống chịu?

Phương pháp CDRI với ma trận 5x5 giúp lượng hóa 25 tiêu chí thuộc 5 lĩnh vực gồm hạ tầng, kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế thành các điểm số cụ thể. Công cụ này chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng đê điều và nguồn vốn tín dụng, tạo cơ sở khoa học chính xác để xếp hạng ưu tiên can thiệp sinh kế.

Thách thức lớn nhất trong việc chuyển đổi sinh kế tại Cát Bà hiện nay là gì?

Thách thức lớn nhất là mâu thuẫn giữa nhu cầu thu hồi đất cho các dự án hạ tầng du lịch quy mô lớn với việc duy trì không gian sinh kế truyền thống của ngư dân. Hơn 38% lao động chuyển sang làm thuê dịch vụ nhưng thiếu kỹ năng nghề nghiệp chuyên nghiệp, dẫn đến thu nhập bấp bênh và dễ bị tổn thương khi có biến động kinh tế.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng và lượng hóa thành công tác động đa chiều của biến đổi khí hậu cùng quy hoạch sử dụng đất mới đối với đời sống kinh tế của cộng đồng dân cư tại xã Phù Long và Trân Châu.
  • Nghiên cứu đã ứng dụng thành công khung lý thuyết sinh kế bền vững DFID kết hợp với cách tiếp cận hệ sinh thái (EbA) và công cụ đánh giá chỉ số chống chịu CDRI qua ma trận 5x5 trên tập mẫu khảo sát 90 phiếu.
  • Báo cáo đã làm rõ các điểm nghẽn sinh kế cốt lõi: 55,7% hộ dân thiếu hụt vốn tài chính tích lũy và ngành nuôi trồng thủy sản chịu tổn thất nặng nề nhất với 68,5% hộ ghi nhận thiệt hại sau thiên tai.
  • Công trình đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chuyển đổi mô hình kinh tế đồng bộ, có tính khả thi cao, xác định rõ lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2018 - 2025 gắn liền với trách nhiệm cụ thể của các cơ quan quản lý và tổ chức xã hội.
  • Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn thiện việc thử nghiệm mô hình nuôi thủy sản sinh thái xen ghép và du lịch cộng đồng trước năm 2022, đồng thời đẩy mạnh việc nhân rộng mô hình ra toàn bộ 10 xã thuộc quần đảo Cát Bà.

Các nhà quản lý địa phương, viện nghiên cứu và tổ chức phát triển hãy tham khảo, ứng dụng ngay các kết quả và mô hình đề xuất của luận văn để chung tay xây dựng huyện đảo Cát Hải trở thành hình mẫu về phát triển kinh tế biển xanh và thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu.