đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV. Trong các hình thức tự học, phổ biến nhất là tự học qua mạng. Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu với nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nối mạng Internet. Người học chủ động tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm…với sự hỗ trợ của máy tính.
Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV. Trước đây, trong dạy học truyền thống, GV giữ độc quyền đánh giá HS. Trong DHTC, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. GV cũng cần tạo điều kiện để HS tham gia đánh giá lẫn nhau.
Đánh giá, tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Điều kiện để áp dụng DHTC Để đổi mới dạy học theo hướng tích cực đòi hỏi phải có sự thay đổi một cách đồng bộ và toàn diện các nhân tố quan trọng trong quá trình dạy học. Cụ thể như sau: - Người dạy: GV phải được đào tạo đầy đủ để thích ứng với những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ của mình.
GV vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các CNTT vào dạy học, biết định hướng phát triển của HS theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của HS trong hoạt động nhận thức. - Người học: Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phải hình thành cho mình phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp DHTC như: xác định đúng đắn mục tiêu học tập (trước đây HS thường rất mơ hồ về điểm này), tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, 19 z biết cách tự học và tăng cường tự học với mọi hình thức, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế… - Chương trình và sách giáo khoa: Chương trình phải giảm bớt khối lượng kiến thức nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những thông tin buộc HS phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường nội dung có tính vấn đề tạo cơ hội phát triển tư duy; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để HS tự nghiên cứu phát triển bài học. - Thiết bị dạy học: Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của HS. Đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm.
Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác. Cụ thể như sau: - Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, thâm nhập thực tế trong qúa trình học tập. - Chú trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành thí nghiệm. - Tăng cường đưa các sản phẩm công nghệ vào dạy học.
Cần trang bị cho nhà trường hệ thống máy chiếu, máy tính, các thiết bị nghe nhìn phổ biến, để HS được tiếp cận với các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại. - Cần tính tới việc thiết kế đối với trường mới và bổ sung đối với trường cũ phòng học bộ môn, phòng học đa năng và kho chứa thiết bị bên cạnh các phòng học bộ môn. Vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị, BCH TW Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội.
Đặc biệt phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet với tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”. Quan điểm tiếp cận CNTT Trong một thời gian dài, CNTT trong dạy học được hiểu là công cụ chuyển tải thông tin đến người học như in bài, sao chụp, xem video dạy học… Thực chất, CNTT là tập hợp các công cụ, phương tiện và phương pháp kỹ thuật, trong đó đặc biệt là công cụ, phương tiện điện tử và tin học có thể ứng dụng trong việc thu thập, lưu trữ, xử lý, sử dụng và truyền đạt thông tin. CNTT không đơn thuần là phương tiện mà còn là phương pháp sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ nhất định. CNTT trong dạy học có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: - Là công cụ bằng công nghệ sử dụng trong môn học cụ thể (để tính toán, thống kê, vẽ bản đồ…); - Là phương tiện dạy học (hình vẽ, phim tư liệu, văn bản trình chiếu…) - Là sản phẩm trọn vẹn (đã được đóng gói) hỗ trợ toàn bộ quá trình dạy học (Ví dụ: các phần mềm dạy học, các trang web dạy học trực tuyến…) - Là việc sử dụng, tích hợp các phương tiện, sản phẩm công nghệ vào trong các quá trình dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, trong và ngoài lớp học Như vậy, tuy khác nhau nhưng xét ở góc độ nào thì CNTT cũng có được hiểu là công cụ hỗ trợ quá trình dạy học nhằm phát huy hiệu quả dạy học.
Ứng dụng CNTT – xu hƣớng tất yếu của dạy học hiện đại. Dạy học, xét về hình thức tiến hành là một quá trình truyền thông hai chiều. Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và nâng cao tính tích cực trong dạy học nói riêng là xu hướng tất yếu của thời đại. Sở 21 z dĩ như vậy là vì CNTT có những ưu thế, thế mạnh riêng.
Bốn thế mạnh mà CNTT mang lại cho con người sử dụng nó là: tốc độ cao, nhất quán, chính xác và ổn định. Đó cũng chính là những đòi hỏi của công nghệ đào tạo hiện đại. Thêm vào đó, tính tất yếu của việc ứng dụng, tích hợp CNTT trong dạy học còn được lý giải ở chỗ các chức năng của CNTT mang lại: thu thập, xử lý, lưu giữ và truyền dữ liệu. Trong dạy học hiện đại, người thầy dạy những tri thức mà người học cần và xã hội đang đòi hỏi; người dạy quản lý, tổ chức quá trình nhận thức, dẫn dắt người học tiếp cận khai thác kho tài nguyên tri thức của nhân loại, để người học tự tìm kiếm tri thức, tự sáng tạo.
CNTT là phương tiện hữu hiệu giúp người thầy thực hiện được mục tiêu trên. Đồng thời CNTT đòi hỏi người dạy phải sử dụng tổ hợp các phương pháp dạy học hiện đại, phải thay đổi cách viết giáo trình, bài giảng, tổ chức lại nội dung dạy học, thay đổi các hình thức dạy học (như giảng lý thuyết, thực hành, thí nghiệm…), chú trọng tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người học. CNTT là cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi cho người GV thực hiện phương pháp DHTC – phương pháp dạy học đang được hướng tới hiện nay. Ứng dụng CNTT giúp chúng ta mới đảm bảo được việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của thời đại mới - thời đại thông tin, thời đại của nền kinh tế tri thức.
Tác động của CNTT đối với quá trình dạy học CNTT không chỉ đơn thuần là các công cụ, phương tiện mà còn là phương pháp sử dụng, ứng dụng, phát triển nó để thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Nói cách khác, CNTT tác động đến hầu hết các thành tố của quá trình dạy học bao gồm: Nội dung dạy học; Phương pháp dạy học; Hình thức tổ chức dạy học; Người dạy - Người học; Kiểm tra đánh giá. CNTT đối với nội dung dạy học Nếu xét CNTT như một công cụ hỗ trợ dạy học thì nó chịu tác động của nội dung dạy học. Nội dung dạy học được GV lựa chọn, trình bày, truyền tải 22 z đến HS dựa trên kịch bản sư phạm đã được xây dựng.
Với sự trợ giúp của CNTT, nội dung dạy học sẽ được trình diễn một cách khoa học hơn, chất lượng hơn, sinh động hơn, người tiếp nhận dễ tiếp thu hơn. Bởi lẽ lợi thế của CNTT là ở tính đa phương tiện, nó cho phép thể hiện nội dung dạy học dưới nhiều dạng thức: văn bản, hình ảnh, âm thanh, các thí nghiệm mô phỏng, các phim tư liệu… Ngược lại, CNTT cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung dạy học. Khả năng liên hệ thực tế, tính thời sự, tính thời đại có trong nội dung dạy học sẽ được gia tăng do thành quả của CNTT mang lại. Những thước phim tư liệu, những đoạn video phỏng vấn thực tế, những hình ảnh gắn kết nội dung bài học với thời đại….tạo nên một nội dung phong phú, nơi mà người học có thể tự khám phá, chắt lọc và rút ra những kinh nghiệm, bài học cho riêng cá nhân mình.
Có thể nói, nhờ có CNTT, nội dung dạy học không còn là những dòng chữ khô cứng, giáo điều, khuôn sáo được lưu lại bằng phương thức “thầy đọc, trò chép” như phương pháp dạy học truyền thống trước đây.