lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, bài viết gồm có 3 chương chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu thủy sản Chƣơng 2: Thực trạng về rủi ro xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì ( 2013-2017) Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp để phòng tránh rủi ro 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm Theo Luật thương mại số 36/2005/QH 11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuất khẩu hàng hóa được định nghĩa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực hải quan riêng theo quy định pháp luật.
Như vậy, xuất khẩu hàng hóa không chỉ đơn thuần là việc đưa hàng hóa ra khỏi biên giới lãnh thổ địa lý của một quốc gia mà bao gồm cả việc đưa hàng hóa vào khu hải quan riêng của quốc gia đó. Vùng hải quan riêng có thể kể đến như khu chế xuất, khu công nghiệp và vùng đặc quyền kinh tế, tại đó hàng hóa đi vào phải làm thủ tục hải quan như với hàng hóa đi ra nước ngoài và sẽ được hưởng những chính sách ưu đãi về thuế và một số ưu đãi khác từ chính phủ. Tóm lại cần phải hiểu rõ việc xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi biên giới hải quan của một quốc gia. Đặc điểm hoạt động xuất khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển.
Hàng hóa được xuất khẩu hay được vận chuyển ra khỏi biên giới hải quan của quốc gia và có yếu tố nước ngoài tạo nên những đặc trưng cơ bản sau: - Về không gian và thời gian: Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng ở cả mặt không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài ra hàng năm và trong phạm vi một số quốc gia cho đến trên toàn thế giới. - Về tiền tệ được sử dụng trong hoạt động thanh toán: Thông thường đồng tiền thanh toán sử dụng trong các hợp đồng xuất khẩu là ngoại tệ với một hoặc cả hai quốc gia. - Về luật pháp: Hoạt động xuất khẩu được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế.
Hệ thống luật này bao gồm luật của nước sở tại, nước chủ nhà và các công ước, thông lệ quốc tế liên quan. 5 - Về chủ thể tham gia: Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là những chủ thể chính trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó còn có sự tham gia của Chính phủ các quốc gia liên quan có nhiệm vụ quản lí và kiểm soát, các ngân hàng và tổ chức tài chính với vai trò là người trung gian để hỗ trợ hoạt động thanh toán, tín dụng vốn.; các tổ chức cung cấp dịch vụ vận tải, logistic, bảo hiểm. và cuối cùng là các tổ chức quốc tế đóng vai trò là bên xây dựng khung hành lang pháp lý thống nhất, phù hợp với áp dụng tại các quốc gia khác nhau.
- Về phương thức giao nhận và thời điểm giao nhận hàng hóa: Đặc điểm của giao nhận quốc tế là hàng hóa và chứng từ liên quan phải chuyển giao trong thời gian dài, cự ly xa. Hàng hóa vận chuyển trên đường dài có thể bị hỏng, giảm phẩm chất (đặc biệt với hàng nông sản) hoặc gặp tai nạn bất ngờ, trộm cướp, chậm trễ giao hàng cho dù hàng hóa đã được mua bảo hiểm nhưng có thể sẽ vẫn gây tổn thất cho cả 2 bên. Với chứng từ liên quan đến hàng hóa, có 2 cách để lưu chuyển chứng từ là chuyển thẳng từ người mua đến người bán và sử dụng ngân hàng là trung gian lưu chuyển. Hàng hóa sẽ chỉ được giao cho người nhận khi họ có đủ các chứng từ liên quan đến hàng hóa và đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán với bên người xuất khẩu.
- Về phương thức thanh toán và thời điểm thanh toán: Thông thường, một giao dịch mua bán sẽ kết thúc bằng việc người mua trả tiền và nhận hàng, người bán giao hàng và nhận tiền. Tuy nhiên với hoạt động xuất khẩu hàng hóa, do những khó khăn về khoảng cách địa lí nên việc người bán giao hàng và nhận tiền cùng một lúc khó có thể thực hiện được. Do đó trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa người ta sẽ nghĩ đến ngay về thanh toán quốc tế thông qua sự trợ giúp của ngân hàng là chủ yếu với các phương thức thanh toán phổ biến như phương thức tín dụng chứng từ (L/C), phương thức nhờ thu,.Và thời điểm thanh toán được tính khi người mua nhận biết đã có bằng chứng xác thực về việc người bán đã giao hàng đúng quy cách, phẩm chất như hợp đồng đã kí, bằng chứng đó là chứng từ. - Về thời gian lưu chuyển hàng hóa: Tùy thuộc vào khoảng cách địa lí giữa các quốc gia 2 bên cũng như phương thức vận tải là đường thủy, đường bộ, đường sắt hay đường hàng không mà thời gian vận chuyển hàng hóa cũng khác nhau.
Đường hàng không được cho là phương thức vận chuyển hàng hóa nhanh nhất hiện nay nhưng cũng 6 có chi phí cao nhất. Mặc dù thời gian lưu chuyển là chậm nhất so với các phương thức vận chuyển còn lại nhưng đường biển lại là phương thức vận chuyển phổ biến nhất hiện nay do những ưu điểm của nó mang lại như chi phí thấp hơn, khối lượng hàng hóa mang được nhiều hơn. Các hình thức xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu có thể diễn ra dưới các hình thức: trực tiếp, gián tiếp hoặc xuất khẩu tại chỗ. Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu qua trung gian chuyên hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu để đưa hàng vào thị trường xuất khẩu (tức là thông qua bên thứ ba).
Nhà xuất khẩu đương nhiên phải chia sẻ lợi nhuận của mình với bên trung gian. Do đó, xuất khẩu gián tiếp là phương thức thường được sử dụng khi sản phẩm lần đầu tiên xâm nhập thị trường xuất khẩu nhằm hạn chế rủi ro và có tính chất thăm dò phản ứng thị trường. Một khi đã nắm được tình hình thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu có thể thay đổi sang hình thức xuất khẩu trực tiếp để nâng cao hiệu quả kinh tế. Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu thông qua những người tiêu dùng nước ngoài đến Việt Nam hoặc xuất khẩu vào các khu vực phi thuế quan.
Hình thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp tận dụng mọi khả năng để xuất khẩu và cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên so với hai hình thức còn lại thì xuất khẩu tại chỗ bị hạn chế về mặt quy mô. Do các số liệu của Hoa Kì, Việt Nam và các tổ chức quốc tế đều chỉ dựa trên hình thức xuất khẩu trực tiếp nên khóa luận sẽ chỉ tập trung đi sâu vào xuất khẩu trực tiếp. Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu trong đó người xuất khẩu trực tiếp bán sản phẩm của mình cho khách hàng ở thị trường nước ngoài (bao gồm cả người tiêu dùng và người có nhu cầu mua hàng).
Doanh nghiệp trực tiếp kí kết các hợp đồng xuất khẩu. Ưu điểm của phương thức này là doanh nghiệp có thể nắm bắt chính xác sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, giảm chi phí trong khâu trung gian nên lợi nhuận kì vọng cao. Tuy nhiên phương thức xâm nhập thị trường này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phải có thông tin về thị trường và cũng hàm chứa độ rủi ro cao hơn do nếu có bất cứ biến động nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp xuất khẩu và cả doanh nghiệp nhập khẩu mà không có sự chia sẻ rủi ro với các bên thứ ba. Vai trò của hoạt động xuất khẩu Ngay từ xa xưa, lịch sử loài người đã chứng kiến công cuộc khai phá những vùng đất mới, trao đổi hàng hóa giữa những vùng miền với nhau và hình thành nên các hoạt động xuất nhập khẩu ngày nay.
Xuất khẩu hàng hóa bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia mà từ đó chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng có lợi thế hơn để xuất khẩu và nhập khẩu từ những mặt hàng mà nước đó kém lợi thế hơn. Điều này đã được thể hiện trên các lý thuyết như lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lợi thế so sánh của David Richardo hay học thuyết Heckcher-Ohlin. Sự chuyên môn hoá này làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được những nguồn lực như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên…trong quá trình sản xuất hàng hoá. Chính vì vậy, vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế là rất lớn và quan trọng.
Vai trò đối với quốc gia Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế.Xuất khẩu hàng hoá có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội của một nước phát triển như thế nào phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất khẩu. Cụ thể những vai trò của xuất khẩu đối với quốc gia được thể hiện ở các khía cạnh sau: Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để phát triển đất nước, công nghiệp hóa hiện đại hóa là một công cuộc vô cùng cần thiết, đặc biệt đối với Việt Nam đang trong giai đoạn quan trọng của cả tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Và để thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì đòi hỏi phải có vốn để nhập khẩu một số lượng lớn máy móc thiết bị hiện đại từ bên ngoài, ngoài ra còn phục vụ yêu cầu tăng cường và đổi mới, tiếp thu các công nghệ hiện đại nhằm trang bị cho nền sản xuất cũng như tăng năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp các nước khác.
Một số nguồn chủ yếu để có huy động nguồn vốn này là: đi vay nước ngoài, xin viện trợ, đầu tư nước ngoài và nguồn thu từ xuất khẩu. Thực tế, không thể mãi phụ thuộc nguồn vốn vay, viện trợ và đầu tư nước ngoài thì có hạn, hơn nước các nguồn này thường bị phụ thuộc vào nước ngoài do vậy đây 8 chỉ là những phương án tạm thời. Chỉ có nguồn vốn thuộc về sở hữu của quốc gia mới là mãi mãi. Vì thế, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu chính là xuất khẩu.