Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu rèn luyện KNTD logic cho học sinh 1. Trên thế giới Tư duy (TD) và tư duy logic (TDLG) được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm. Các nhà tâm lí học, các nhà triết học, giáo dục học,… đã đề cập đến những tư tưởng đầu tiên cho TDLG.
- Các nhà tâm lý học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sự phát triển của trí tuệ, khả năng TD, yếu tố di truyền và yếu tố môi trường. Francis Galton (1897) đưa ra mối liên hệ giữa phả hệ và các mức độ phát triển của trí tuệ. Ông đưa ra hai nguyên tắc: thiên là do di truyền và phát triển trí tuệ liên quan đến nhiều yếu tố khá phức tạp [ 27]. Với hai nguyên tắc đó thì câu hỏi được đặt ra là nếu trí tuệ là do di truyền thì việc phát triển trí tuệ có ý nghĩa gì không? Alfed Brinet (1857- 1911) cho rằng TD của con người bắt nguồn từ một chức năng duy nhất gọi là trí tuệ, có thể phát triển TD của một đứa trẻ ngay cả khi nó không có khả năng bẩm sinh.
Ông nói rằng tư duy được hình thành từ rất nhiều chức răng nhỏ hơn như chú ý, quan sát, phân biệt, nhớ, đánh giá [28 ]. Theo tác giả Hans Eysenck (1916) trí tuệ con người là kết quả của 80% do di truyền, 20% do môi trường và giáo dục. Như vậy, các nhà nghiên cứu trên đã nhấn mạnh tính di truyền của biến dị hay khả năng TD mà coi nhẹ sự tác động của môi trường [ 29]. Tuy nhiên, nhiều nhà tâm lí học khác lại đưa ra những quan điểm đối lập, không nhấn mạnh vào yếu tố di truyền mà nhấn mạnh vào yếu tố môi trường.Vygotsky (1980), nhà tâm lí học người Nga cho rằng tất cả các quá trình tâm lí đều là kết quả của việc trao đổi văn hóa và xã hội.TD của một đứa trẻ phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động trong xã hội, đặc biệt là trong sự giao lưu giữa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn người lớn và trẻ em [30].
Vygotsky lại khẳng định: các chức năng tư duy sơ đẳng như bản chất khéo léo là một phần của di truyền, nó sẽ được nền văn hóa và giáo dục biến thành những chức năng cao hơn, trí tuệ hơn như khả năng viết, thuyết trình. Như vậy, khả năng trí tuệ của con người được bắt nguồn từ gen di truyền và được phát triển thông qua hoạt động xã hội, giáo dục, gia đình và môi trường văn hóa [30]. Vấn đề hình thành ở học sinh kĩ năng tư duy được nhiều tác giả nghiên cứu.Vào khoảng thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX khi lý thuyết hoạt động của A.Lêônchiev ra đời thì đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về NL và NLTD được công bố ở các mức độ sâu và rộng, đặc biệt nhấn mạnh đến điều kiện hình thành chúng. Việc hình thành các kĩ năng nhận thức như là sở của tính độc lập của HS đã được F.Brunơ (1960) đề cập đến trong tác phẩm "Hình thành các hoạt động trí tuệ của HS".Brunơ trong khi xác định những điều kiện để tiến hành có kết quả phương pháp tìm tòi khám khá, điều kiện đầu tiên là GV phải biết vận dụng phương pháp phù hợp với năng lực, hứng thú và nhu cầu của trẻ [9].
Theo Kharlamop (1978), GV cần biết logic của hoạt động nhận thức của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh. Ông nêu 8 biện pháp tạo tình huống có vấn đề và tổ chức hoạt động nhận thức của HS, tạo sự phát triển tư duy logic của HS, trang bị cho các em những biện pháp và thủ thuật lĩnh hội kiến thức [12]. Trong tác phẩm "Thế giới phẳng" (2006) của tác giả Thomas L.Friedman nhấn mạnh phương pháp học: kĩ năng đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần có trong thế giới phẳng là kĩ năng "học phương pháp học" [23]. Trong những năm gần đây các nhà giáo dục học mong muốn có chương trình dạy kĩ năng TD cho HS.
Các nhà khoa học trong các lĩnh vực tâm lý học, triết học, giáo dục học cùng phối hợp nghiên cứu và đề xuất nhiều ý tưởng cho việc dạy kĩ năng tư duy, ứng dụng trong giáo dục ở trường phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Về vấn đề hình thành các biện pháp hoạt động TD trong dạy học nói chung, dạy học Sinh học nói riêng, các nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: nếu chất lượng bộ môn thấp là do GV không nắm chắc các biện pháp phân tích, so sánh, khái quát hóa. Vì vậy, đối với mỗi thao tác logic các tác giả đều vạch ra một hệ thống các biện pháp, phương pháp tạo điều kiện phát triển tư duy HS. Trên đây, chúng tôi đã tổng quan luận điểm của các tác giả trên thế giới nghiên cứu về TD và phát triển KNTD của HS.
Vấn đề TD đã được các nhà triết học, tâm lý học đề cập, tiếp đến là các nhà giáo dục nghiên cứu tầm quốc gia, hình thành quan điểm dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng. Hầu hết các quan điểm đều nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, rèn luyện kĩ năng tư duy, phương pháp tự học của học sinh. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về TD và TDLG đa phần được thể hiện đồng thời với đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS.Từ năm 1970 đã có những công trình nghiên cứu xem xét hiện trạng, đặc điểm về trí nhớ, chú ý và TD của HS trung học cơ sở. Vào những năm 1990, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động sáng tạo của học sinh trong dạy học.
Trong luận văn sau đại học “Hình thành và phát triển các biện pháp hoạt động trí tuệ của học sinh trong dạy học sinh” của tác giả Lâm Hàn Thủy khẳng định: có thể sử dụng hệ thống các câu hỏi, bài tập để rèn luyện các thao tác tư duy logic, các biện pháp nhận thức học tập và người giáo viên cần phải ra đi từ việc phân tích nội dung tài liệu [25]. Gần đây đã có nhiều nghiên cứu đi sâu về từng mặt các yếu tố trong hệ thống cấu trúc các phương pháp dạy học tích cực, đã bàn về kỹ năng tư duy và hình thành kỹ năng tư duy trong dạy học. Nguyễn Bá Kim (2002) nhấn mạnh TD không thể tách rời ngôn ngữ, TD phải diễn ra trong sự trau dồi bằng ngôn ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn của con người và ngược lại, ngôn ngữ được hình thành nhờ TD [15]. Năm 2004, Nguyễn Văn Thuận đã nghiên cứu đề tài “Góp phần phát triển năng lực TDLG và sử dụng chính xác ngôn ngữ toán học cho HS đầu cấp THPT trong dạy học đại số” đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dạy học để rèn năng lực TDLG cho HS [24].
Theo tác giả Hồ Ngọc Đại (2010) thì khoa học càng hiện đại thì càng gần chân lí, càng đơn giản hơn, nếu HS biết “cách” chiếm lĩnh được khái niêm khoa học hiện đại thì quá trình hình thành và phát triển TD của HS chắc chẵn được đảm bảo tối ưu [8]. Các tác giả đều nêu được sự cần thiết của việc hình thành kĩ năng tư duy cho HS, đó là công việc có ý nghĩa then chốt trong quá trình dạy học, cũng như phân tích được các căn cứ về triết học, tâm lí và giáo dục học để phát huy tính tích cực của HS, rèn luyện KNTD cho HS. Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập về những phương pháp, biện pháp dạy học các kiến thức sinh học như: sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, xây dựng và sử dụng tình huống hợp lý, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn,… một số ít công trình cũng đã đề cập đến rèn kĩ năng riêng lẻ như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa,… 1. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu * Tư duy Trong thực tiễn có rất nhiều điều ta chưa biết, chưa hiểu.
Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu được những cái chưa biết đó, phải hiểu rõ được bản chất, mối quan hệ có tính quy luật của chúng. Quá trình đó gọi là TD. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam : Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận,… [20, tập III].
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: “Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi (dẫn theo [10]). Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hóa dưới tên gọi “ý niệm” là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm” [10]. Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao.
Về lý thuyết, Karl Marx (1938), cho rằng: “Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh” [14]. Về thực nghiệm Ivan Petrovich Pavlov, nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người Nga cho rằng “Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc” [16]. Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chọn hướng tiếp cận theo định nghĩa từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000),“TD là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [17]. * Kĩ năng Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, tùy thuộc vào cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu.