CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Câu hỏi và vai trò của câu hỏi trong phát triển kĩ năng đọc hiểu 1. Câu hỏi và câu hỏi trong dạy học Nhiều nhà nghiên cứu CH ở các lĩnh vực khác nhau (GD, ngôn ngữ, nghiên cứu khoa học, khoa học hình sự.) có cách phân loại CH khác nhau dựa trên những cơ sở phân loại riêng cho các lĩnh vực ấy. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến việc phân loại các CH ở khía cạnh lý luận dạy học nhằm giúp cho người GV có ý thức hơn khi cấu trúc và sử dụng chúng sao cho đúng đối tượng, đúng ý đồ đã định ra trong giáo án và đúng mục đích trong kiểm tra và đánh giá.
Trong giao tiếp hay trong quan hệ giữa con người với nhau, kể cả trong dạy học thì hỏi là một hiện tượng phổ biến. Hỏi có nhiều hình thức biểu đạt như: làm dấu tay hay dấu mắt, mặt, cổ, chân…tức là bằng ngôn ngữ cơ thể. Song hình thức rõ ràng, công khai và phổ biến hơn cả của hành động hỏi là câu hỏi, tức là hành động hỏi được biểu đạt bằng ngôn ngữ (lời nói, chữ viết và kí hiệu). Vậy CH chính là hành động hỏi được biểu đạt bằng ngôn ngữ công khai, có nghi thức rõ ràng.
Có nhiều cách định nghĩa CH: Aristotle là người đầu tiên đã phân tích CH dưới góc độ logic ông cho rằng: “CH là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết” [Dẫn theo 14. 23] Tác giả Lê Phước Lộc đã đưa ra khái niệm CH cũng được diễn đạt dưới dạng khác như: CH là dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh cần được giải quyết.Ogigov, “Hỏi” là: - Sự nhằm vào, sự đòi hỏi phải trả lời, đáp lại. - Tình trạng, bối cảnh nào đó là đối tượng nghiên cứu, phán xét, một nhiệm vụ đòi hỏi sự giải quyết một vấn đề [Dẫn theo 35] Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) [38, tr.455] “hỏi” tức là: - Nói ra điều mình muốn cho người ta biết với yêu cầu được trả lời. - Nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở người ta với yêu cầu được đáp ứng.
Theo tác giả Trần Bá Hoành thì “CH là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh mà người học cần phải giải quyết” [20, tr,45]. 11 Các định nghĩa trên tuy hình thức có khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là: - Sự nêu lên nhu cầu, yêu cầu, hoặc thắc mắc đòi hỏi sự giải quyết, đáp lại, trả lời. - Hướng vào đối tượng nào đó là người khác với mình hoặc chính mình để thu được sự phản hồi có giá trị. Chúng ta cũng cần phân biệt các thuật ngữ CH, hành động hỏi: - CH là kiểu câu nghi vấn có mục đích tìm hiểu, làm rõ sự kiện hay sự vật nhất định, đòi hỏi sự cung cấp, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin về sự vật hay sự mô tả, phân tích, so sánh có liên quan đến sự vật và về bản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp lại.
Vì có mục đích nên CH luôn có tính chất định hướng. Các chủ thể tiếp nhận CH bao giờ cũng bị thu hút, chú ý và nảy sinh suy nghĩ hướng vào sự kiện hay những liên hệ nhất định có quan hệ đến mục đích và nội dung CH. Chủ thể tiếp nhận CH có thể chính là chủ thể trả lời (tự vấn). - Hành động hỏi là biểu hiện về nhu cầu của chính người hỏi Có thể thây, CH trong đời thường biểu hiện sự mong muốn tìm tòi, hiểu biết của con người từ thuở mới bắt đầu tập nói.
Con người phát triển trí tuệ của mình theo tuổi tác, điều đó cũng được thể hiện qua khả năng cấu trúc CH của họ: từ đơn giản (lúc nhỏ) đến phức tạp (khi trưởng thành), kể cả hình thức CH lẫn nội dung cần trả lời. Một đứa trẻ, trước một vật lạ chỉ có thể hỏi “Cái gì đây?” mà câu trả lời chỉ cần một danh từ. Khi trưởng thành, nó có thể hỏi thêm “Từ đâu có cái này?” hoặc “Làm thế nào để tạo ra được cái này?”…Song, một người có tri thức, có thể hỏi “Cái này được cấu tạo như thế nào?”, “Sự tồn tại của cái này có mối liên hệ gì đối với sự vật xung quanh?” hay, thậm chí “Có thể thay thế nó bằng một cái khác được không?”… Những loại CH như vậy cũng là nguồn gốc để có kho tàng tri thức của nhân loại ngày nay. Vì vậy, trong quá trình dạy học, người GV phải dùng CH một cách gương mẫu và có khoa học, vừa để tổ chức dạy học tốt, vừa để dạy cho HS cách sử dụng CH cho việc nhận thức tự nhiên và xã hội.
Có thể coi CH là một “vũ khí” sắc bén cho cả thầy lẫn trò trong quá trình dạy học. Với ý nghĩa đó, bài viết sẽ nêu một số quan niệm về việc phân loại CH và một số cách sử dụng CH thường thấy trong dạy học tích cực. 12 Như vậy, có thể hiểu CH là nội dung của nhu cầu người hỏi hay đó là kết quả của hành động hỏi. Khi nêu được CH đã chứng tỏ đối tượng nhận thức được một phần về đối tượng đó hay nói cách khác CH đã là một sản phẩm, một hình thức tư duy.
Trong lĩnh vực dạy học, CH của GV đặt ra trong khi giảng dạy chủ yếu có liên quan đến những điều mà GV đã biết (chủ thể đặt CH thì đã biết, còn chủ thể nhận CH thì chưa biết hoặc chưa biết đầy đủ). Những CH này mang yếu tố gợi mở, yếu tố nhận biết khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng thông tin khác bằng cách tìm ra mối liên hệ, tìm ra quy tắc hoặc con đường để tạo ra một câu trả lời hay một cách giải mới. Đó là nét cơ bản cho thấy chức năng sư phạm của CH. CH trong DH là việc GV đặt CH, yêu cầu HS trả lời, nhằm giúp HS lĩnh hội tri thức mới, kĩ năng, kĩ xảo mới.
Như vậy, trong dạy học, CH được sử dụng để hướng dẫn quá trình nhận thức, để tích cực hoá hoạt động của HS. Đó là một yêu cầu được đặt ra đòi hỏi HS phải thực hiện bằng sự tư duy tích cực. Theo Trần Bá Hoành [20] “CH kích thích tư duy là CH đặt ra trước HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá qua đó lĩnh hội được kiến thức mới, đồng thời được tập dượt các phương pháp nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề,có được niềm vui của sự khám phá”. Trong dạy học, CH được sử dụng như là một công cụ dùng để tổ chức hướng dẫn quá trình nhận thức, quá trình kiểm tra, tự kiểm tra và tự học.
Đó là những yêu cầu được đặt ra (trong CH) mà người học cần phải giải quyết. Ý nghĩa của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học phát triển kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Trong dạy học môn Tiếng Việt, có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực nhận thức của HS bằng nhiều biện pháp, phương pháp khác nhau. Khai thác CH là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển kĩ năng của HS. Danilov (Dẫn theo Nguyễn Quang Cương) [14] đã khẳng định vai trò của việc khai thác và sử dụng hệ thống CH trong quá trình dạy học.
Các tác giả này cho rằng khai thác và sử dụng hệ thống CH là một mắc xích quan trọng trong tiến trình dạy học, và đặc biệt quan trọng trong quá trình tái thực hành độc lập ở người học. Khai thác và sử 13 dụng hệ thống CH giữ vai trò rất quan trọng, CH vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả. Sharma (Dẫn theo Lê Phước Lộc) [31] lại cho rằng, GV có thể hướng dẫn cho HS phương hướng tự học, tự nghiên cứu bằng nhiều hình thức khác nhau. Ông cho rằng dù hình thức dạy học có linh hoạt và biến hóa đến đâu đi nữa thì việc khai thác và sử dụng hệ thống CH vẫn đóng vai trò quan trọng nhất.
Vygotxky cũng cho rằng tại mỗi thời điểm trong sự phát triển của trẻ em đều có hai trình độ: mức phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất. Chúng ta có thể nhận thấy hai trình độ trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập của HS với hai mức độ khác. Mức độ thứ nhất là ở những CH mà HS có thể độc lập giải quyết chúng một cách triệt để. Mức độ thứ hai là lúc HS giải đáp các CH đó và cần có sự hướng dẫn của người lớn hoặc GV.
Do đó, CH có vai trò là giúp mở rộng vùng phát triển gần nhất cũng như củng cố lại mức phát triển hiện tại của HS. Retzke lại đánh giá cao vai trò của CH nhận thức đối với hoạt động tự học của HS. Theo họ, việc trả lời CH nhận thức không chỉ giúp HS khắc sâu thêm kiến thức cũ, mà nó còn là con đường giúp HS hình thành kiến thức mới từ những kiến thức đã học. Như vậy, vai trò của CH nhận thức đối với quá trình học tập là giúp HS tự mình chiếm lĩnh các kiến thức mới.
Các nhà nghiên cứu như R. Marzano cho rằng, việc thực hiện những CH lý thuyết lẫn CH trả lời cho phần thực hành đều tạo cho HS những cơ hội để đào sâu hơn kiến thức và luyện tập thành thục những kĩ năng liên quan đến bài học đã được giới thiệu trước đó. Tóm lại, vai trò của CH đối với quá trình học tập của HS là vô cùng quan trọng. Nhìn về bản chất của việc khai thác và sử dụng hệ thống CH, không khó để nhận ra việc trả lời các CH được xây dựng trên cơ chế phản xạ có điều kiện trong tâm lý học của Paplov, hoặc mô hình kích thích – phản ứng trong tâm lý học GD của thuyết hành vi với quan niệm rằng: quá trình học tập là quá trình thay đổi hành vi.
Câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ Tuỳ theo bản chất, mục đích, cách sử dụng có thể chia CH thành nhiều loại khác nhau: 14 Dựa vào mức độ nhận thức của HS: Đây là CH yêu cầu tái hiện sự kiện, hiện tượng, quá trình…; CH yêu cầu mức hiểu khái niệm; CH yêu cầu mức vận dụng khái niệm ;CH yêu cầu mức sáng tạo.