Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Lịch sử lớp 4. Chương 2: Quy trình sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo hướng phát triển tư duy lô gic của học sinh tiểu học. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÔ GIC 1.
Khái niệm Bản đồ tư duy (BDTD) còn được gọi là sơ đồ tư duy, hay lược đồ tư duy (Mind Map),…hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau. Các quan điểm này tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi người về nó. Trong cuốn "Lập Bản đồ tư duy" của Tony Buzan do Phạm Thế Anh biên dịch cho rằng: BĐTD là phương pháp dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não [16]. Trong cuốn "Bản đồ tư duy cho trẻ em" biên dịch Thanh Huyền đã quan niệm rằng: BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy, là một phương tiện ghi chép hiệu quả thể hiện sự " sắp xếp " ý nghĩ [18].
Theo báo Giáo dục và thời đại: BĐTD là một công cụ tư duy nền tảng, BĐTD được hiểu như là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết. Phương pháp này khai thác cả hai chức năng của bộ não đó là phân tích và tổng hợp. Bằng cách nêu tổng thể của vấn đề được đưa ra dưới dạng hình cụ thể, trong đó các đối tượng liên hệ với nhau bằng các nhánh chính và phụ. Với cách trình bày như vậy làm cho các dữ liệu được ghi nhớ một cách cụ thể và dễ dàng hơn, làm cho người học dễ tiếp nhận được nội dung cần hiểu biết.
Bên cạnh đó, BĐTD còn chỉ ra nhận thức cụ thể của đối tượng, giữa các khái niệm, nội dung có mối liên quan hỗ trợ qua lại lẫn nhau bên trong của một vấn đề lớn. BĐTD chủ yếu được ghi chép bằng việc sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, nội dung có liên quan và được xem như một công cụ tư duy nền tảng bằng việc kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, 9 màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người có thể tận dụng và khai thác tiềm năng vô tận của bộ não hoạt động dựa trên các quy luật tư duy. Theo cuốn "Sử dụng Bản đồ tư duy trong công việc" của nhóm Tư duy mới - NewThinking Group đều cho rằng: BĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng, đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một hình ảnh trung tâm hay ý tưởng, được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều nối với ý trung tâm.
Các nhánh nhỏ lại được bao bọc trong nhánh chính nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa. Bản đồ tư duy của bộ não Cùng một chủ đề, nhưng có thể “thể hiện” sơ đồ tư duy theo cách riêng dựa trên năng lực và khả năng tiếp nhận của mỗi người. Cơ chế hoạt động của nó chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) được thiết kế dưới dạng công cụ đồ họa trực quan nối các hình ảnh có mối liên hệ với nhau nên giáo viên có thể vận dụng để hỗ trợ dạy học các dạng bài nghiên cứu kiến thức mới, bài ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức cho người học sau mỗi chương/phần/chuyên đề/học kì. Tuy có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các quan niệm này đều hướng tới một kết luận chung: BĐTD là kĩ thuật dạy học nhằm tổ 10 chức và phát triển tư duy, giúp người học truyền tải thông tin vào bộ não một cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả.
Vai trò của việc sử dụng BĐTD trong môn Lịch sử ở tiểu học Cũng như các môn khoa học khác, Lịch sử cũng cần phải có sự sáng tạo. Sáng tạo ở đây không phải là thay đổi các sự kiện mà là sáng tạo trong cách học, cách dạy. Việc sử dụng BĐTD là một công cụ, một phương tiện hữu hiệu để phát huy được sự sáng tạo đó. Nhìn vào BĐTD, GV có thể dễ dàng ghi nhớ các trình tự chính của sự kiện vì vậy không cần phải thuộc giáo án.
HS có thể kể lại, thuật lại các sự kiện mà không phải đọc trong SGK. Thông qua việc sử dụng BĐTD trong dạy học Lịch sử, ngôn ngữ của các em cũng có điều kiện để phát triển hơn. Đối với bộ môn Lịch sử lớp 4 có nhiều sự kiện, chi tiết, mặc dù SGK chỉ đưa ra những kiến thức ngắn gọn cho các dữ liệu nhưng đòi hỏi HS phải nhớ chính xác thời gian, nhân vật, sự kiện và sự tương ứng giữa các yếu tố đó. Thế nhưng với những đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 4 thì các kiến thức đó rất khó nhớ và không gây được hứng thú cho các em.
Đây là một trong những khó khăn lớn của HS dẫn đến việc các em không ham thích học môn Lịch sử. Khai thác lợi thế của BĐTD là tìm hình ảnh thay thế, lựa chọn những từ khóa, triển khai các ý sẽ đem đến cho HS những lợi ích cụ thể trong quá trình học tập là nắm được những nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung kiến thức và biểu thị bằng sơ đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâu sắc và bền vững. Trước đây, với phương pháp học truyền thống đã khiến tư duy của nhiều HS đi vào lối mòn, không kích thích được sự phát triển của trí não, làm cho một số em tuy rất chăm học nhưng sự tiếp thu vẫn rất ít vì không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng những kiến thức đã học ở bài trước đó vào những phần bài học sau. Các em chỉ biết ghi nhớ máy móc mà không biết cách lưu trữ thông tin sao cho khoa học, tự chủ, độc lập nhất.
Vận 11 dụng BĐTD trong dạy học môn Lịch sử sẽ mang lại lợi ích đáng kể phát triển nhận thức, khả năng tư duy lôgic, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo của học sinh. Sử dụng BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả như sau: - Tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy lôgic ở học sinh. - Phát huy tối đa tính sáng tạo, lôi cuốn HS tham gia vào bài giảng, tạo điều kiện phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS… - HS tự mình lập dàn ý nhớ toàn bộ cốt lõi bài học mà không sa vào chi tiết, học vẹt. - Tiết kiệm được thời gian, giúp HS nắm được kiến thức một cách nhanh chóng thông qua việc sâu chuỗi các kiến thức cũ và mới liên quan đến nội dung bài học.
- Vẽ BĐTD còn giúp HS nâng cao kĩ năng học và phát triển khả năng suy nghĩ. Chỉ với những từ khóa thể hiện những ý chính của các sự kiện, HS có thể thuật lại, kể lại các sự kiện đó một cách đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc mà không cần học thuộc một cách thụ động các kiến thức trong SGK đưa ra. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ đào sâu những cái mà chính mình tự suy nghĩ, tự viết ra theo ngôn ngữ cá nhân vì vậy việc sử dụng BĐTD sẽ góp phần định hướng cho HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não vào sự phát triển khả năng tư duy của các em. Đối với GV, việc sử dụng BĐTD sẽ hình thành được hệ thống kiến thức một cách khoa học và chặt chẽ những nội dung bài học mà không bị thiếu ý, giúp GV tạo ra được nhiều hình thức học tập khác nhau, sử dụng phối hợp các thiết bị dạy học khác nhau… góp phần thiết thực vào việc đổi mới PPDH hiện nay.
Từ đó giúp HS biết cách tư duy, chắt lọc, ghi chép và rút ra những kiến thức quan trọng cần phải lĩnh hội. Ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng BĐTD trong dạy học Thứ nhất: BĐTD kích hoạt trí sáng tạo 12 Khi vẽ bản đồ, chúng ta không chỉ ghi ý tưởng bằng từ ngữ mà còn có thể ghi lại bằng kí hiệu, biểu tượng. BĐTD không những sử dụng chữ và số mà còn sử dụng cả màu sắc và hình ảnh, nhờ vậy sẽ làm tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của bộ não. Nếu chúng ta kích thích nó bằng những công cụ học tập và tư duy phù hợp chắc chắn sẽ đem lại những giải pháp tích cực cho bất kì vấn đề nào, đó là chìa khoá dẫn tới thành công [12].
Thứ hai: Nhìn thấy bức tranh tổng thể Khi nhìn vào BĐTD chúng ta sẽ biết ngay được đâu là chủ đề trọng tâm. Từ đó, người học có được cái nhìn bao quát hơn về vấn đề đang nghiên cứu. Nhánh trọng tâm nằm ở vị trí này sẽ tạo thuận lợi trong việc liên kết với những nhánh khác giúp người học sẽ dễ dàng triển khai một cách hài hoà, đồng thời góp phần định hướng phát triển các nhánh sau. Nội dung hay từ khóa ở trung tâm là một công cụ hiệu quả để tạo hình dáng, cấu trúc giúp tư duy hoạt động theo cơ chế tự nhiên.
Từ đó, người học có thể tiếp tục suy nghĩ để tìm ra cách giải quyết vấn đề đó như thế nào, giúp ta dự đoán các tình huống có thể xảy ra và dự kiến những phương án giải quyết tối ưu cho nên kết quả có được sẽ tốt hơn rất nhiều. Thứ ba: BĐTD hỗ trợ trí nhớ Khi có một thông tin mới được đưa vào để lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin trước đó. Vì vậy BĐTD hỗ trợ đắc lực cho việc nhớ lại các kiến thức, đồng thời ghi nhớ và áp dụng các kiến thức đã học. Khi người học sử dụng các hình ảnh, bức tranh, kí hiệu, mã số, màu sắc, sự liên tưởng bởi trí nhớ được tạo thành bằng cách liên kết từng mảng thông tin với nhau sẽ làm tăng khả năng ghi nhớ từng chi tiết cụ thể, nhớ rõ thông tin, sắp xếp theo nhóm một cách có hệ thống.
Thứ tư: Tiết kiệm thời gian Trước đây, cách ghi chép truyền thống khiến chúng ta phải đọc từng từ trong bài như vậy sẽ chiếm một lượng thời gian rất lớn.