Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Một số phương pháp dạy học phát triển kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh trong kĩ năng dạy học tổ hợp xác suất ở trường Trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Nhận thức là gì Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nhận thức. Theo Từ điển Tâm lý học: “Nhận thức là hiểu được điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều gì đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó” [6 ]. Theo quan điểm của Triết học, khái niệm nhận thức có thể được hiểu như sau: “Nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người” [3].
Quan điểm này mang tính phiến diện, không nhận thấy được mối liên hệ khăng khít giữa nhận thức và thực tiễn, nói cách khác là giữa ý thức và vật chất. Nói cách khác, quan điểm của chủ nghĩa duy tâm phủ nhận nguồn gốc khách quan của nhận thức, các nhà duy tâm chủ quan cho rằng nhận thức là quá trình tự sản sinh ra tri thức bởi chủ thể hay đó là quá trình phản ánh trạng thái chủ quan của con người. Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.Lênin chỉ rõ "Con đường nhận thức của con người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn" - đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan. Do đó, chúng ta có thể hiểu nhận thức là sự phản ánh thế giới được thực hiện trên cơ sở thực tiễn và con đường biện chứng của nhận thức gồm hai giai đoạn kế tiếp, bổ sung cho nhau [3].
Tóm lại, nhận thức là khái niệm tương đối trừu tượng, và tác giả luận văn đồng ý với quan điểm triết học duy vật biện chứng về nhận thức đó là: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn”. Bản chất của nhận thức “Bản chất của nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn”. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình và đã giải thích được một cách có cơ sở khoa học về bản chất của nhận thức dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây [5]: Thứ nhất, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con người. Nhận thức là sự phản ánh của thế giới khách quan vào trong bộ óc người một cách chủ động và sáng tạo (xác định khách thể và chủ thể của nhận thức).
Thứ hai, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới khách quan của con người. Nói cách khác, con người nhận thức nghĩa là phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người. Như vậy, về nguyên tắc, không có cái gì là không thể nhận biết được, có chăng chỉ là những vấn đề chưa biết được mà thôi. Thứ ba, nhận thức không phải là một hành động nhất thời, thụ động mà là một quá trình biện chứng phát triển theo quy luật nội tại của nó; nhận thức là quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn; nó là quá trình đi từ chưa biết đến điều đã biết, đi từ hiện tượng đến bản chất của nó, đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Thứ tư, nhận thức có nguồn gốc từ thế giới vật chất nhưng chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn. Như vậy, trong khuôn khổ luận văn này tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng “bản chất của nhận thức chính là sự phản ánh một cách biện chứng tích cực, tự giác, năng động và sáng tạo thế giới khách quan dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội vào trong bộ óc con người”. Đặc điểm của nhận thức Trong luận văn này, tác giả dựa theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức, trong đó chỉ rõ các đặc điểm sau đây về nhận thức của con người (xem [1]): 6 - Đặc điểm thứ nhất: Nhận thức là quá trình tư duy của con người, nó đi từ hiện tượng đến bản chất, từ cái riêng đến cái chung, nhận thức cũng chính là sự khái quát hoá, trừu tượng hoá. Nhận thức cũng tuân thủ nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể.
- Đặc điểm thứ hai: Con đường nhận thức được thực hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng. Mỗi giai đoạn nhận thức có những đặc điểm riêng biệt: + Giai đoạn nhận thức cảm tính: Là sự phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức. + Giai đoạn nhận thức lý tính: Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng, là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng; nó phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của hiện thực khách quan một cách gián tiếp. Tóm lại, nhận thức cảm tính và lý tính là hai giai đoạn nhận thức khác nhau xong hai giai đoạn này không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Mặt khác, không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật, hiện tượng. Hoạt động nhận thức Theo A. Leontiev: “Hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực: chủ thể - khách thể.
Ông mô tả cấu trúc vĩ mô của HĐ gồm 6 thành tố có mối quan hệ biện chứng theo mô hình sau: Phía chủ thể Phía đối tƣợng Hoạt động Động cơ Hành động Mục đích Thao tác Phương tiện Sơ đồ 1. Cấu trúc vĩ mô của hoạt động nhận thức [11, tr. 45] 7 Có nhiều quan niệm về HĐ nhận thức, chẳng hạn: “Hoạt động nhận thức là quá trình cá nhân thâm nhập, khám phá, tái tạo lại, cấu trúc lại thế giới xung quanh, qua đó hình thành và phát triển chính bản thân mình mà trước hết là các kiến thức về thế giới, các kĩ năng và phương pháp hành động cũng như những giá trị sống khác” [9, tr. Hay “Hoạt động nhận thức là quá trình nhận thức giúp chúng ta phản ánh bản thân hiện thực khách quan tác động vào con người trong quá trình hoạt động của mình” [4].
Tóm lại, mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm HĐ nhận thức nhưng về cơ bản chúng đều có các đặc điểm chung như sau: + HĐ nhận thức hình thành và phát triển hiểu biết của con người về thế giới và phương pháp vận động của nó nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người. Do đó, HĐ nhận thức có mục đích khám phá và tái tạo lại thế giới. + Trong HĐ nhận thức con người không trực tiếp tác động vào đối tượng mà phải gián tiếp thông qua các công cụ; + HĐ nhận thức diễn ra trong mối tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các cá nhân với nhau; + HĐ nhận thức có nhiều cấp độ, tùy thuộc vào sự tham gia của các chức năng nhận thức cảm tính và lý tính. + HĐ nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ thuộc tính bề ngoài đến các thuộc tính bên trong, tức là từ cảm tính, trực quan, riêng rẽ đến đối tượng trọn vẹn, ổn định, có tính quy luật và ngày càng đi sâu vào bản chất của cả một lớp đối tượng, hiện tượng.
và cuối cùng trở về thực tiễn. Do đó, HĐ nhận thức là một quá trình năng động, tích cực và sáng tạo. Do đó, trong luận văn này, tác giả quan niệm: “HĐ nhận thức được hiểu là quá trình tư duy của cá nhân nhằm thâm nhập, khám phá và giải quyết các tình huống cần nhận thức”. Siêu nhận thức 1.
Khái niệm siêu nhận thức là gì Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm SNT song về bản chất tương đối giống nhau. Các tác giả đều cho rằng đối tượng của SNT chính là quá 8 trình tư duy, quá trình suy nghĩ của con người. Do vậy, trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa của J.Flavell về SNT, theo đó “SNT là sự hiểu biết của cá nhân liên quan đến quá trình nhận thức của bản thân, các sản phẩm và những yếu tố khác có liên quan trong đó còn đề cập đến việc theo dõi tích cực, điều chỉnh kết quả và sắp xếp các quá trình này để luôn hướng tới mục tiêu đặt ra” [22]. Đặc điểm, chức năng của siêu nhận thức 1.
Đặc điểm của siêu nhận thức Để tìm hiểu về đặc điểm của SNT, tác giả luận văn phân tích các thành phần của SNT theo quan điểm của một số tác giả đã nghiên cứu về các thành phần của SNT. Theo Tobias & Everson, SNT được chia thành các thành phần chính đó là: Lập kế hoạch; lựa chọn chiến lược; theo dõi hiểu biết, kiểm soát và đánh giá quá trình GQVĐ. Tác giả Ann Browntrong [17] đã chia SNT thành hai bộ phận chính đó là: kiến thức và sự hiểu biết về SNT; kiểm soát và điều chỉnh SNT. * Về kiến thức và sự hiểu biết về SNT: Nội dung này đề cập đến những gì mọi người biết về quá trình nhận thức của chính họ và của những người khác.
Quan điểm này đề cập đến các khía cạnh của nội dung hoặc kiến thức. Nó có kiến thức khai báo mà chủ thể nhận thức thực hành khi nghĩ về năng lực trí tuệ, khả năng học tập hoặc trí nhớ của mình. Kiến thức SNT được tạo thành từ ba thành phần: + Biến cá nhân: Các kiến thức của bản thân như một người suy nghĩ và người học. Đó là về khả năng và kinh nghiệm của chủ thể nhận thức khi thực hiện các nhiệm vụ khác nhau.
+ Nhiệm vụ thay đổi: Đề cập đến kiến thức chủ thể nhận thức có về các mục tiêu và tất cả các đặc điểm liên quan đến khó khăn của họ. + Biến số chiến lược: Đề cập đến kiến thức về các phương tiện có thể giúp chủ thể nhận thức thực hiện một nhiệm vụ. Nó liên quan đến việc hiểu các nhiệm vụ khai báo, thủ tục và điều kiện của các chiến lược áp dụng.