Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Như chúng ta đã biết PPDH dự án đã được biết đến và phát triển rất mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở nước ta PPDH này mặc dù đã được triển khai mạnh mẽ, tuy nhiên việc áp dụng vẫn chưa phải là phổ biến, đa số đang dừng lại ở mức thử nghiệm. Sau đây người nghiên cứu xin điểm qua một số mốc lịch sử quan trọng để thấy rõ hơn quá trình hình thành và phát triển của PPDH dự án trên thế giới cũng như ở Việt Nam: 1.
Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Trước khi được nghiên cứu với tư cách như một lĩnh vực của khoa học giáo dục, dạy học theo dự án kế thừa những luận điểm tiền thân từ thời cổ đại cho đến đầu thế kỉ XX không chỉ ở xã hội phương Tây mà còn trong các triết lý giáo dục ở phương Đông. Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) đã nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”, tức là “học thì phải luyện tập, chẳng phải vui lắm sao?”[10] Socrate (469- 399) trước công nguyên)-bậc thầy về truy vấn thời Hi Lạp cổ đại đã xây dựng mô hình học tập thông qua cấu trúc đặt câu hỏi - điều tra để trả lời - phản biện. Ngay cả nhà triết học Aristotle (384-322 trước công nguyên) thời Hi Lạp cổ đại cũng từng nêu trong tác phẩm “Ðạo đức học viết tặng Nicomachean” (The Nicomachean Ethics): “Với những điều chúng ta phải học trước khi có thể làm được, chúng ta học bằng cách làm những điều ấy” (For the things we have to learn before we can do them, we learn by doing them) [30] Theo M.Knoll khái niệm “dự án” trong dạy học đã được sử dụng từ thế kỉ XVI ở các trường dạy nghề kiến trúc Ý sau đó lan rộng sang các nước Châu Âu khác và Mĩ từ thế kỉ XVIII [23]. Những kiến trúc sư người Ý đã làm việc chuyên nghiệp xu hướng 6 Luan van nghề nghiệp của học bằng cách thành lập Học viện nghệ thuật - The Accademia- Rome dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng Gregory XIII năm 1577.
Cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, dạy học theo dự án đã trở thành một phương pháp dạy học được áp dụng thường xuyên bắt đầu với những: trung tâm Nghệ thuật và Chế tạo ở thủ đô Paris (năm 1829), trường Bách khoa Ducal ở Karlsruhe (Đức – năm 1833), viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Zurich (năm 1854) và viện Công nghệ Massachusetts ở Boston (Mĩ - năm 1864)… [23] Năm 1870, Stillman H. Robinson tại đại học Công nghiệp Illinois tại Urbana (Mĩ) cho rằng lý thuyết và thực hành nên được kết hợp chung trong việc đào tạo những kỹ sư. Ông đề nghị “trong thực tế giảng dạy với dự án, HS được yêu cầu phải tạo ra máy móc cùng các bộ phận cấu thành theo chính thiết kế của riêng họ”. Với yêu cầu này, Robinson định hình hai mục tiêu dạy học: đào tạo HS trở thành những kỹ sư “thực hành” và đào tạo nên những công dân “dân chủ” [23] Ở thế kỉ XX, nhà cải cách giáo dục John Dewey (1859- 1952) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lí thuyết cho phương pháp dạy học theo dự án ở thời kì này.
Với học thuyết “learning by doing” ông cho rằng HS có thể tư duy bằng cách thông qua hành động, tranh luận và giải quyết vấn đề. Quá trình này cho phép lớp học là môi trường với học sinh là trung tâm thông qua mô hình dạy học theo dự án. John Dewey đã thử nghiệm đầu tiên phương pháp dạy học dự án ở trường Đại học bang Chiago ở Mĩ. HS được chia thành các nhóm nhỏ và tham gia thực hiện các dự án cụ thể mà trong quá trình đó họ học cách đọc, viết, tính toán, biết lắng nghe người khác, học cách đảm nhận trách nhiệm và còn nhiều thứ khác.
Từ thực nghiệm đó John Dewey đã rút ra 3 nhận định: - Tất cả HS, để học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó. - Tất cả HS, phải học cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề. - Tất cả HS, phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội [24]. 7 Luan van Tuy nhiên những người đã thực sự phát triển, nâng tầm phương pháp này phải kể đến: Nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Jean Piaget (1896-1980) – người đặt nền tảng cho Thuyết kiến tạo nhận thức (Constructivist theory of knowing) quan niệm môi trường học tập lý tưởng là nơi người học xây dựng tri thức cho mình thông qua việc đặt câu hỏi, điều tra, tương tác với người khác và có phản hồi hoặc phản biện bằng kinh nghiệm của bản thân [23].
Năm 1918, William Heard Kipatrick (1871-1965) lần đầu tiên đưa ra khái niệm về “phương pháp dự án” (The project method) và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Với nhận định “tâm lí đứa trẻ” là yếu tố quan trọng trong quá trình học tập, Kilpatrick coi động cơ thúc đẩy học sinh như là các tính năng quan trọng của phương pháp dự án: Trẻ em muốn làm những gì chúng thích hơn là làm những gì theo sự ép buộc của người khác [21]. Những năm cuối thế kỉ XX có rất nhiều nghiên cứu về dạy học theo dự án được tác giả John W. Thomas tổng kết trong bài viết “Tổng quan về nghiên cứu dạy học theo dự án” (A review of research on Project-based learning) vào năm 2000.
Ông đã tổng kết các nghiên cứu về dạy học theo dự án với từng nội dung riêng biệt như: - Khái niệm “dạy học theo dự án” có nghiên cứu của các tác giả Tretten và Zacharious vào năm 1997 [23]. Các nghiên cứu này đưa ra sự khác nhau giữa dạy học theo dự án với các mô hình dạy học khác có liên quan đến dự án. - Đối tượng tham gia vào phương pháp dạy học theo dự án, có các nghiên cứu thống kê của Học viện phát triển giáo dục (The Academy for Educational Development, viết tắt AED) hay Hệ thống định giá trị gia tăng Tennessee ở Menphis. Theo báo cáo của các nghiên cứu thống kê này, số lượng người tham gia vào các hoạt động dạy học theo dự án ngày càng tăng [23].
- Ngoài ra, tác giả John W. Thomas còn ghi nhận những nghiên cứu nền tảng lí luận và thực tiễn của phương pháp dạy học dự án, những tác động tích cực của phương pháp dạy học theo dự án, vai trò và đặc điểm của HS, những thách thức và nâng cao hiệu quả hay những định hướng cho nghiên cứu về phương pháp 8 Luan van dạy học dự; có thể liệt kê các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Horan, Lavaroni, Beldon vào năm 1996; của Boaler năm 1997; của các tác giả Meyer, Tunner, Spencer (1997); nghiên cứu của Rosenfeld và nhóm cộng sự vào năm 1998 [26]. Nhìn chung, các nghiên cứu về dạy học theo dự án vào cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI theo các xu hướng sau: - Các nghiên cứu về hiệu quả của dạy học dự án so với các dự án khác của các tác giả: R. Zachariou (năm 1995), John Thomas và các cộng sự của ông(năm 1999) … - Nghiên cứu vận dụng dạy học dự án vào thực tiễn của D.Moursund ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học dự án (năm 1999).
- Nghiên cứu thực nghiệm về việc tăng thử thách cho những chuyên gia dạy học dự án để tìm ra các hình thức huấn luyện tốt nhất của nhóm tác giả P. Blumenfeid, Krajcik và các cộng sự (năm 1994), các tác giả nhóm nhà nghiên cứu W. Diehl tại trung tâm Giáo dục và Phát triển tuổi trẻ tại Boston (năm 1999)… - Thể chế hóa phương pháp dạy học theo dự án vào những đổi thay của môi trường học nhóm tác giả Kĩ thuật và Nhận thức trường Đại học Vanderbilt (năm 1991) hay nghiên cứu của R. Glaser về nhận thức chức năng và cấu trúc xã hội thông qua dự án về cuộc sống tại bang New Jersey (năm 1998).
Đầu thế kỉ XXI, William N. Bender đã chỉ ra cách tiếp cận dạy học tốt nhất của dạy học dự án để giúp người học giải quết các vấn đề thực tiễn. Ông đã trình bày sự phù hợp của phương pháp dạy học dự án đối với từng lớp học cụ thể, song song đó ông cũng chỉ ra những ưu thế của dạy học dự án so với các phương pháp khác. Bender trình bày các bước thực hiện dự án cụ thể từ việc lập kế hoạch, hướng dẫn thực hiện một số mô hình dự án và đề xuất các kĩ thuật và các chiến lược để dạy học theo dự án.
Cuối cùng William N. Bender đã phân tích sự lựa chọn đánh giá trong phương 9 Luan van pháp dạy học theo dự án và sự cần thiết kết hợp phương pháp dạy học theo dự án với các tiêu chuẩn Nhà nước [21]. Như vậy, trên thế giới dạy học dự án đã có những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành hay phương pháp vận dụng.từ nhiều lĩnh vực khác nhau, từ châu lục này sang châu lục khác. Ngày nay, vì giáo dục là quốc sách hàng đầu để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển mạnh mẽ nên đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng.
Dạy học theo dự án giúp người học tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các học sinh dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Ở các trường Cao đẳng và Đại học dạy học dự án được áp dụng thông qua các đồ án tốt nghiệp, các bài tập lớn, tiểu luận hay các khóa luận trong đào tạo nhìn chung sinh viên đã quen thuộc. Trong hình thức này sinh viên tự lực thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đối với trung học phổ thông, vào những năm 1960-1980 có những hoạt động gần gũi với dạy học dự án như: phong trào hướng nghiệp, dự án trồng cây hay dự án phát triển vườn trường.
Tuy nhiên cho đến nay dạy học theo dự án vẫn chưa phổ biến ở mọi cấp học.