CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan một số nghiên cứu về tự đánh giá và tự đánh giá của học sinh 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 90 của thế kỷ XIX, đã có nhiều nghiên cứu về TĐG ở nước ngoài, các tác giả đã tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: nghiên cứu về cái Tôi, về các yếu tố của tự đánh giá, vai trò của tự đánh giá đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Một trong những người đầu tiên nghiên cứu về TĐG là William James – nhà Tâm lý học người Mỹ.
Trong chương sách “Ý thức về bản thân” thuộc tác phẩm “Những điều trọng yếu trong tâm lý học” (1890), W.James có quan điểm nghiên cứu về cái Tôi khá thuyết phục. Ông cho rằng, khái niệm cái tôi được phát triển từ sự so sánh xã hội, chúng ta thường so sánh mình với “những người quan trọng khác”. Trong hoạt động, người ta luôn so sánh thành tích đạt được với những nguyện vọng được hình thành. Thông qua kinh nghiệm bản thân và ảnh hưởng của người khác mà cá nhân nhận ra: Tôi là ai? Tôi sẽ là người như thế nào? Họ muốn tôi là người thế nào?.
Để đi tìm câu trả lời này, trong quá trình so sánh mình với người khác, các cá nhân đã có sự tự đánh giá về mình và tự đánh giá về người khác, qua đó thấy được vai trò và vị thế của mình trong các nhóm xã hội. Như vậy, ông đã đưa ra công thức của TĐG bản thân = Thành công/khả năng. Đồng quan điểm với W. James khi nghiên cứu tự đánh giá, George H.
Mead (nhà Tâm lý học, Xã hội học người Mỹ) đã nghiên cứu về cái Tôi và con đường hình thành cái Tôi. Coi trọng yếu tố tương tác xã hội tạo nên cái tôi, Mead tập trung vào quá trình cá nhân gia nhập và trở thành thành viên của một nhóm xã hội. Ông cho rằng, nguyên nhân của quá trình này là cá nhân nội tâm hóa những ý tưởng và thái độ của những nhân vật quan trọng trong cuộc sống mà anh ta đã quan sát, chấp nhận chúng và thể hiện chúng ra ngoài như 7 z là của riêng mình. Nội tâm hóa thái độ của người khác đối với mình, cá nhân đánh giá cao bản thân khi được những người khác chấp nhận và ngược lại cá nhân đánh giá thấp bản thân khi bị bác bỏ, từ chối.
Do đó, có thể hiểu cái Tôi được hình thành dựa trên việc “nội tâm hóa thái độ” và điều chỉnh thái độ của bản thân dựa trên đánh giá của người xung quanh về mình. Theo Sigmund Freud (1856 – 1939), định khu cấu trúc tâm lý nhân cách của con người gồm ba phần: cái Nó, cái Tôi, cái Siêu tôi. Trong đó Freud cho rằng ý thức tự ngã luôn luôn bị chi phối bởi bản năng mà nội dung chính của nó là "libido"; hiểu theo nghĩa rộng - tức là mọi nhu cầu, khát vọng, dục vọng, thèm muốn giao tiếp với thế giới thực tại khách quan. Nhưng khi ý thức tự ngã bị kiềm chế bởi những định khuôn, qui ước xã hội (social conventions) nó lại đi vào vô thức (inconscient), rồi từ đó những xung năng khát vọng bộc phát lên ý thức, biến thành những ưu phiền, lo âu.
Do đó, "cái Tôi" luôn bị mâu thuẫn bởi sự chi phối của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ý thức xã hội. Cho nên, cá nhân luôn diễn ra sự đấu tranh nội tâm, có sự đánh giá chính mình để vừa thỏa mãn những nhu cầu bản năng đồng thời phù hợp với chuẩn mực xã hội. Do đó, đây cũng chính là một trong những nguồn gốc bên trong của TĐG. Các nhà tâm lý học theo chủ nghĩa Phân tâm mới là H.
Adler nghiên cứu về sự hình thành TĐG đã lý thuyết hóa nguồn gốc của sự TĐG. Mối quan hệ liên nhân cách là nền tảng của sự TĐG, nhấn mạnh sự quan trọng đặc biệt của cha mẹ, anh chị em ruột. Cụ thể là, việc cha mẹ nuông chiều con cái, ảnh hưởng tiêu cực đến đứa trẻ: những đứa trẻ được nuông chiều sẽ có một giá trị thổi phồng không thực tế so với giá trị thực của chúng; chúng trở thành tự kỷ trung tâm và đòi hỏi, không muốn hoặc không chuẩn bị phấn đấu cho sự trưởng thành trong các mối quan hệ xã hội. Horney cho rằng: đứa trẻ có nguy cơ bị mắc chứng nhiễu tâm liên quan đến sự phát triển không thuận lợi của các mối tương quan ở trẻ, ảnh hưởng đến tự đánh giá, dẫn đến việc trẻ mang hình tượng cái tôi bị xuyên tạc: “Nó 8 z không mang lại cho người bị nhiễu tâm khả năng hiểu và chấp nhận bản thân thực tế với chính mình” [31; tr.
Chứng rối nhiễu tâm lý có thể phòng ngừa được nếu ở lứa tuổi ấu thơ đứa trẻ ở trong một gia đình có đủ tình yêu thương, ấm áp và thông cảm, nó cảm thấy được an toàn. Do đó có thể khẳng định, TĐG của cá nhân chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố giáo dục gia đình. Tác giả Morris Rosenberg là một trong số người có nhiều cống hiến cho việc nghiên cứu về nguồn gốc và yếu tố ảnh hưởng đến sự TĐG. Là một nhà Xã hội học, ông cho rằng các điều kiện xã hội có ảnh hưởng nhiều đến sự TĐG, trong đó sự quan tâm và chú ý của người cha khác nhau trong các nhóm dân tộc, địa vị, nhóm thiểu số có liên quan có ý nghĩa tới sự TĐG của con cái.
Thanh thiếu niên có sự gần gũi với cha mình có sự TĐG cao hơn những người có mối quan hệ cha con xa cách. Stanley Coopersmith cũng nghiên cứu về nguồn gốc của sự TĐG trong tác phẩm “Những tiền đề của tự đánh giá” (1967) và cho rằng nguồn gốc của TĐG ở trẻ: (1) Là toàn bộ hoặc gần như toàn bộ sự chấp nhận của cha mẹ đối với đứa trẻ. (2) Các giới hạn và nội quy đối với đứa trẻ được xác định rõ. (3) Sự tôn trọng các hành động cá nhân tồn tại trong giới hạn được xác định trên.
Hệ quả là cha mẹ của những đứa trẻ có sự TĐG cao thì quan tâm và chú ý tới đứa trẻ và xây dựng một cuộc sống phù hợp với những cách thức mà họ cho là phù hợp và cho phép một mức độ tự do tương đối lớn trong khuôn khổ đã được hình thành. Khi giới hạn được xác định rõ, cho phép đứa trẻ đánh giá được rõ các thành tích hiện có cũng như so sánh các hành vi và thái độ trước đó. Điều này sẽ giúp cho đứa trẻ có sự TĐG cao. Một hướng nghiên cứu của Alfred Adler liên quan đến TĐG đó là, yếu tố thể chất của cá nhân cũng ảnh hưởng đến TĐG của cá nhân đó: Sự không khỏe mạnh về thể chất, sự yếu ớt trong việc phát triển cơ bắp, sự thiếu hụt một vài bộ phận trên cơ thể…có ảnh hưởng không thuận lợi đến TĐG của cá nhân.
Khái niệm “mặc cảm tự ti” nảy sinh khi cá nhân nhận thấy sự thua kém của bản thân khi cố gắng vượt qua những nhược điểm nhưng nhiều lần bị thất bại; hoặc cá nhân quá chú ý đến sự kém cỏi của bản thân sẽ dẫn đến sự tự ti. 9 z Nhận thức về sự thiếu hụt và sự cố gắng phải bù trừ những khuyết tật chiếm vị trí trung tâm trong sự phát triển nhân cách, đó là: sự không hoàn thiện về mặt thể chất, hình thái, do khó khăn trong giao tiếp ngoài xã hội… Nhận thức này là động cơ thúc đẩy cá nhân luôn có khát vọng vượt qua sự thiếu hụt, kém cỏi về thể chất bằng việc muốn dành ưu thế – địa vị siêu đẳng, muốn làm chủ môi trường xung quanh. Trong lý thuyết này, khái niệm “bù trừ” dùng để chỉ những khát vọng muốn hoàn thiện: khát vọng giành lấy địa vị siêu đẳng trong một lĩnh vực khác, chính là sự bù trừ thừa mức mà cá nhân trở nên siêu việt hơn người khác trên các phương diện mà nguyên nhân chính là sự khiếm khuyết về cơ thể của họ. Như vậy theo Adler, đối với trẻ em có 3 nhóm điều kiện gây ra cảm giác thiếu hụt đó là: - Sự thiếu hụt về thể chất.
- Giáo dục không đúng tạo ra những đứa trẻ không nhận thấy giá trị bản thân. - Giáo dục không đúng tạo ra những đứa trẻ luôn có quan hệ thù địch với mọi người. Như vậy, thể chất của cá nhân và thái độ đánh giá của người khác về cá nhân cũng góp phần quan trọng tạo nên sự TĐG ở cá nhân – tích cực hay tiêu cực. Điều này thể hiện rõ nhất ở cá nhân khi còn nhỏ trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách.
Cách giáo dục của cha mẹ và người lớn tác động trực tiếp đến nhận thức, cảm xúc, thái độ của đứa trẻ về chính ngoại hình của trẻ (xinh đẹp hay xấu xí), về giới tính của trẻ (quy định cách ứng xử theo giới)…Từ đó hình thành nên nhân cách đứa trẻ và quy định hành vi ứng xử của chúng. Bên cạnh đó đa phần các tác giả đều cho rằng TĐG hình thành thông qua tương tác xã hội - trước hết là mối quan hệ gắn bó như cha mẹ, người thân trong gia đình (những người có ý nghĩa đối với cá nhân). Điều này tương đồng với định nghĩa được đưa ra trong Bách khoa toàn thư về Tâm lý học 10 z Gale, phát biểu về TĐG bao gồm hai thành phần cốt yếu: “cảm giác được yêu và được chấp nhận bởi những người khác” và “cảm nhận về năng lực bản thân trong thực thi nhiệm vụ và giải quyết vấn đề”. Về đặc trưng của TĐG, theo S.Franz, thứ nhất là có thể dùng đánh giá bên ngoài để làm cơ sở xem xét TĐG của cá nhân.
Việc cá nhân đánh giá người khác và người khác đánh giá cá nhân được gọi là đánh giá bên ngoài, đồng thời cá nhân đánh giá đúng bản thân được coi là TĐG phù hợp nên TĐG được coi là không phù hợp khi cá nhân đánh giá quá cao hay quá thấp so với năng lực thực tế của bản thân. Thứ hai là độ cao - thấp của TĐG phụ thuộc vào sự định hướng của cá nhân và hình ảnh bản thân, hình ảnh bên ngoài hay hình ảnh lý tưởng. Đồng thời tính chính xác hay mức độ phù hợp của TĐG trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau là khác nhau. Qua đó giúp chúng ta xác định nhiều kiểu TĐG: như TĐG phòng vệ (khi chủ thể có TĐG bên ngoài cao nhưng TĐG bên trong thấp), TĐG thật (khi chủ thể có TĐG bên trong và bên ngoài đều cao).