SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đềtài: VẬN DỤNG GIÁO DỤC STEM VÀO TỔ CHỨC DẠY – HỌC BÀI NGỮ CẢNH MÔN: NGỮ VĂN Têntácgiả: TRƯƠNG THỊ LOAN Tổ :Văn - Ngoạingữ Nămthựchiện: 2021 1 skkn MỤC LỤC Trang Phần I. Lý do chọnđềtài …………………………………………………………. Mụctiêu, nhiệmvụcủađềtài………………………………………………. Phươngphápnghiêncứu …………………………………………………….
Tổngquanvềcáccôngtrìnhnghiêncứuliênquanđếnđềtài…………… 4 2. Cơsởlýluậnvàcơsởthựctiễn…………………………………………. Kháiniệmgiáodục STEM……………………………………………….Xuthếtấtyếucủadạyhọc STEM hiện nay …………………………….Vìsaonênvậndụnggiáodục STEM vàotổchứcdạyhọcbàiNgữcảnh? ………………………………………………………………………. Quytrìnhxâydựngbàihọc STEM…………………………………….
ThựctrạngdạyhọcmônNgữvănvàvậndụngphươngpháp STEM…. Nhữngthuậnlợivàkhókhănkhivậndụng STEM vàodạyhọcmônNgữvănvàbàihọcNgữcảnh……………………………. Cácgiảiphápkhivậndụnggiáodục STEM vàotổchứcdạyhọcbàiNgữcảnh……………………………………………………. Chiếnlượcgợimở, xâydựngtìnhhuốngthựctiễn……………………….
Xâydựngtìnhhuốngbằngcâuhỏigợimở, câuhỏitìnhhuống………. Tìnhhuốngphảithựctế, gầngũivớihọcsinhvàcótínhgiáodụccao… 18 3. Sửdụngphươngpháphoạtđộngnhóm………………………………. Vậndụnggiáodục STEM vàotổchứcdạy-họcbàiNgữcảnh………….
Thiếtbị, phươngpháp, kỹthuậtdạy - học……………………………. Thiếtkếtiếntrìnhtổchứchoạtđộngdạy - học…………………………… 23 4. Hoạtđộng 1:Xácđịnhvấnđề, giaonhiệmvụ. Hoạtđộng 2: NghiêncứubàiNgữCảnh, phântíchngữcảnhcủatìnhhuốngvàlựachọngiảiphápgiảiquyếttìnhhuống.
Hoạtđộng 3: Xâydựngvàbáocáocácgiảiphápđểgiảiquyếttìnhhuốngthựctiễnnhómđãlựa. Hoạtđộng 4: Thửnghiệmvàđánhgiá. Hoạtđộng 5: Trìnhbày, chia sẻkếtquảvàkếtluận. Sảnphẩm minh họa……………………………….
Khảosáttìnhhuống………………………………. Phântíchngữcảnhcủatìnhhuống………………………………. Bảngkhảosátniềmyêuthíchhọctậpcủahọcsinhvàđốichứngthựcnghiệmvềhiệuquảcủađ ềtài………………………………. Khảnăngứngdụng, triểnkhaiđềtài………………………………….
47 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………… 49 PHỤ LỤC…. Lý do chọn đề tài Vận dụng giáo dục STEM là xu hướng giáo dục xuất phát từ yêu cầu thực tế hướng đến giải quyết các vấn đề trong thực tiễn đời sống, phát huy năng lực, phẩm chất, trau dồi kĩ năng sống của học sinh. Đây là một yêu cầu cấp thiết, là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục. Theo GS Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông 2018), giáo dục STEM được thể hiện ở những điểm sau: - Chương trình xây dựng có các môn học STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) - Cải thiện rõ rệt vị trí của giáo dục tin học và giáo dục công nghệ trong hệ thống chương trình - Định hướng dạy học tích hợp và đổi mới phương pháp giáo dục tạo điều kiện tổ chức các chủ đề STEM trong chương trình môn học; góp phần phát triển năng lực vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn cho học sinh - Tính mở của chương trình cho phép một số nội dung giáo dục STEM có thể được xây dựng thông qua nội dung giáo dục địa phương, kế hoạch giáo dục của nhà trường và những hoạt động giáo dục được xã hội hóa.
(Dẫn theo Nguyễn Thanh Nga, Hướng dẫn thự hiện một số kế hoạch dạy học chủ đề giáo dục STEM, NXB Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh, trang 5,6) Qua giáo dục STEM, học sinh vừa học được kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn. Giáo dục STEM sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc thực sự, nhạy bén trong ứng xử với các tình huống vô cùng của cuộc sống. Giáo dục STEM đề cao đến việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học sinh được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến thức khoa học.Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến 5 skkn thức nền (qua sách giáo khoa, học liệu, thiết bị thí nghiệm, thiết bị công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra.
Giáo dục STEM đề cao một phong cách học tập mới cho người học, đó là phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh, người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết. Giáo dục STEM phù hợp với một số chủ đề/ bài học trong chương trình Ngữ văn THPT, trong đó có bài Ngữ Cảnh (Ngữ văn 11). Bài học Ngữ Cảnh đặt ra nhiều tình huống thực tế cho học sinh tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp nhất, hiệu quả nhất.
Qua đó rèn luyện phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh trong quá trình hoàn thiện nhân cách và kĩ năng sống của mình.Cụ thể, bài học góp phần phát triển cho học sinh những phẩm chất chăm chỉ, trung thực, nhân ái, trách nhiệm và những năng lực tự chủ và tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ. Qua khảo sát thực tế dạy học của các trường THPT trên địa bàn huyện Diễn Châu, tôi nhận thấy việc vận dụng giáo dục STEM vào dạy học mới chỉ được giáo viên các môn tự nhiên như toán, lý, hóa, sinh áp dụng thực hiện còn giáo viên môn Ngữ văn thì chưa quan tâm đến phương pháp dạy học này. Bởi những lí do trên, từ năm học 2019 – 2020 đến nay, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu, áp dụng, đúc kết kinh nghiệm để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: Vận dụng giáo dục STEM vào tổ chức dạy - học bài “Ngữ Cảnh” (Ngữ văn 11) 2. Mục tiêu, nhiệm vụcủa đề tài - Mục tiêu: Đề xuất được các biện pháp phát triển năng lực cho học sinh thông qua dạy học bài Ngữ Cảnh phù hợp với yêu cầu của đổi mới phát triển giáo dục và thực tiễn xã hội hiện nay.
- Nhiệm vụ: + Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo đổi mới căn bản toàn diện giáo dục của Sở giáo dục đào tạo Nghệ An. 6 skkn + Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục STEM và các biện pháp phát triển năng lực đó trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông. + Nghiên cứu cơ sở lí luận về bài tập thực tiễn, dự án học tập… và vai trò của nó trong việc dạy – học STEM. + Nghiên cứu bài học: Ngữ Cảnh.
+ Đề xuất các biện phápvận dụng giáo dục STEM vào tổ chức dạy – học bài Ngữ Cảnh. Tính mới của đề tài - Đề tài thực hiện phương pháp, cách thức dạy - học mới đang là xu thế tất yếu của giáo dục: phương pháp giáo dục STEM. - Xuất phát từ một tình huống thực tiễn, nhu cầu thực tiễn, học sinh nảy sinh nhu cầu tìm hiểu kiến thức trong sách giáo khoa, trong bài học trên lớp để giải quyết tình huống đó bằng kiến thức học trong nhà trường. - Học sinh làm chủ kiến thức phổ thông; biết vậndụnghiệuquảkiếnthứcvàođờisống; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; Nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.
Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích - Phương pháp thống kê - Phương pháp thực nghiệm khoa học - Phương pháp so sánh, đối chiếu 5. Phạm vi nghiên cứu đề tài - Bài học Ngữ cảnh, chương trình Ngữ văn lớp 11. - Đối tượng học sinh mà tôi thực hiện khảo nghiệm là học sinh lớp 11 trường THPT Diễn Châu 3, trường THPT Diễn Châu 2, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trong năm học 2019 – 2020,2020 – 2021. 7 skkn Phần II.
Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đổi mới giáo dục. Đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề quan tâm hàng đầu. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực cộng tác làm việc, 8 skkn các kĩ năng mềm của người học. Đó cũng là xu hướng quốc tế trong cải cách hương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông Qua tìm hiểu các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã làm của các giáo viên, tôi thấy đã có nhiều đề tài đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học cho học sinh như dạy học chủ đề, dạy học dự án, dạy học trải nghiệm, … Trong đó có một số sáng kiến kinh nghiệm vận dụng giáo dục STEM vào dạy học của các bộ môn như Sinh học, Toán, Hóa, Vật lý.
Riêng môn Ngữ văn tôi chưa thấy có sáng kiến kinh nghiệm nào về STEM. Trong các công trình nghiên cứu, sách, bài viết sưu tìm được, có những cuốn sách viết khá đầy đủ về giáo dục STEM như: “Giáo dục STEM/STEAM từ trải nghiệm thực hành đến tư duy sáng tạo” của tác giả Nguyễn Thành Hải, Nxb Trẻ, 2020; “Hướng dẫn thực hiện một số kế hoạch dạy học chủ đề giáo dục STEM ở trường THCS và THPT”, chủ biên Nguyễn Thanh Nga, Nxb Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2020. Tuy nhiên cuốn sách của tác giả Nguyễn Thành Hải viết lý luận chung về STEM, cuốn sách của Nguyễn Thanh Nga hướng dẫn thực hiện 16 chủ đề nhưng không có chủ đề nào thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Như vậytôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục STEM trong dạy học môn Ngữ văn.
Đó là "khoảng trống" về lý luận và thực tiễn đòi hỏi đề tài Sáng kiến phải làm rõ. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có những đóng góp về lý luận và thực tiễn đối với dạy học Ngữ văn trong trường THPT hiện nay. Cơ sở lý luậnvà cơ sở thực tiễn 2. Khái niệm giáo dục STEM Khái niệm dạy học STEM là thuật ngữ xuất phát từ phương pháp giảng dạy và học tập tích hợp nội dung và các kỹ năng khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.
Thuật ngữ STEM được hiểu như một “tổ hợp đa lĩnh vực” bao gồm: Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học (Mathematics). 9 skkn Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (Bộ giáo dục và đào tạo), khái niệm giáo dục STEM được nêu như sau: Giáo dục STEM là mô hình giáo dục dựa trên cách tiếp cận liên môn, giúp học sinh áp dụng các kiến thức khoa học vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể. Giáo dục STEM là một phương thức giáo dục nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thực tiễn, qua đó phát triển cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cùng với những năng lực khác tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Kiến thức trong giáo dục không mới với nhân loại nhưng lại mới đối với đối tượng học sinh chưa học đến kiến thức này.
Xuất phát từ một tình huống thực tiễn, nhu cầu thực tiễn, học sinh nảy sinh nhu cầu tìm hiểu kiến thức trong sách giáo khoa, trong bài học trên lớp để giải quyết tình huống đó bằng kiến thức học trong nhà trường. Đặt học sinh trước những vần đề của thực tiễn cần giải quyết.