Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu "Rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục" của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Quang Ninh tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Bộ môn Văn - Tiếng Việt, Mã số: 9140111), đại diện cho một bước tiến tiên phong trong việc giao thoa giữa lí luận dạy học ngôn ngữ mầm non và tâm lí học nhận thức. Bối cảnh khoa học của đề tài bắt nguồn từ yêu cầu đổi mới căn bản chương trình giáo dục mầm non theo định hướng tiếp cận năng lực, trong đó việc phát triển đồng thời tư duy logic và năng lực biểu đạt ngôn từ ở giai đoạn bản lề 5–6 tuổi giữ vai trò cốt lõi.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được xác định tường minh: các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận biện pháp so sánh tu từ ở bậc tiểu học và trung học (Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú), hoặc tiếp cận thao tác so sánh thuần túy dưới góc độ tâm lí học nhận thức và phát triển thao tác trí tuệ trong môn môi trường xung quanh (Trần Thị Phương, 2006). Chưa có một nghiên cứu hệ thống nào tích hợp bản chất kép của so sánh – vừa là thao tác tư duy logic quy nạp vừa là phương tiện tu từ nghệ thuật giàu hình ảnh – để xây dựng quy trình rèn luyện chuyên biệt cho trẻ mẫu giáo lớn (5–6 tuổi).

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được xác lập:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lí luận và thực trạng sư phạm của việc rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5–6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non hiện nay diễn ra như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cấu trúc quy trình sư phạm nào tối ưu hóa được việc hình thành và phát triển kĩ năng so sánh của trẻ thông qua hai hoạt động trọng tâm: Khám phá môi trường xung quanh và Làm quen với tác phẩm văn học?
  • Giả thuyết khoa học (H1): Nếu giáo viên thiết kế và vận hành một quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh chuẩn mực, bám sát nguyên tắc "học mà chơi, chơi mà học", đi từ trực quan cụ thể đến liên tưởng trừu tượng, từ "vừa sức" đến "tạo sức", thì không chỉ nâng cao năng lực thao tác trí tuệ (nhận biết thuộc tính bản chất, phân loại đối tượng) mà còn thúc đẩy vượt bậc năng lực thụ đắc ngôn ngữ, giúp câu nói của trẻ đạt độ chính xác, sinh động và giàu tính thẩm mĩ.

Khung lí thuyết của luận án tích hợp chặt chẽ lí thuyết phát sinh nhận thức (Genetic Epistemology) của Jean Piaget, lí thuyết văn hóa - lịch sử và vùng phát triển gần nhất (Zone of Proximal Development - ZPD) của L.S. Vygotsky, cùng hệ thống lí luận phong cách học và tu từ học tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trên đối tượng trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi tại các trường mầm non công lập và dân lập đại diện tại Việt Nam (loại trừ các trường quốc tế do khác biệt lớn về cơ sở vật chất và môi trường song ngữ), mang lại ý nghĩa then chốt cho việc chuẩn bị tâm thế và năng lực ngôn ngữ tiền học đường cho trẻ bước vào lớp 1.


Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn học thuật trong luận án được tổ chức theo cấu trúc đa tầng, đối thoại sâu sắc với các dòng nghiên cứu kinh điển và đương đại:

  1. Dòng nghiên cứu Logic học và Triết học nhận thức: Từ Aristote trong Poétique đến G.W.F. Hegel trong Mỹ học, so sánh luôn được xem là khởi điểm của nhận thức duy lý. V.I. Lênin trong Bút kí triết học chỉ rõ: "tương tự là một suy luận không cho ta những kết luận tất yếu được suy ra từ các tiền đề chân thực, mà chỉ cho ta những tri thức giả thuyết, cho ta những dự đoán dựa trên cơ sở so sánh sự tương đồng giữa hai đối tượng". D.P. Gorki (1966) khẳng định so sánh là nền tảng của suy luận quy nạp theo phép tương tự, cho phép con người từ các thuộc tính đồng nhất suy đoán ra thuộc tính tiềm ẩn. Nhà nghiên cứu Triệu Truyền Đống (1995) trong Phương pháp biện luận – Thuật hùng biện nhấn mạnh so sánh đối chiếu làm cho "cái khó hiểu trở nên rõ ràng, cái trừu tượng trở nên cụ thể".

  2. Dòng nghiên cứu Ngôn ngữ học và Tu từ học Tiếng Việt: Đinh Trọng Lạc (1964, 1993, 1997, 1998) trong các công trình nền tảng về tu từ học đã xác lập cấu trúc 4 thành tố của so sánh tu từ (Chủ thể A, Chuẩn so sánh B, Từ so sánh, Phương diện so sánh). Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982) và Cù Đình Tú (1983) đã đào sâu phân loại so sánh tu từ đối lập với so sánh logic, phân biệt so sánh nổi và so sánh chìm. Bùi Trọng Ngoãn (1997) hoàn thiện mô hình ngữ nghĩa cấu trúc, còn Nguyễn Thế Lịch (1998) chuẩn hóa hệ thống so sánh đủ và so sánh khuyết.

  3. Dòng nghiên cứu Tâm lí học phát triển và Thụ đắc ngôn ngữ: Trọng tâm của cuộc tranh luận học thuật nằm ở sự đối lập giữa quan điểm nhận thức cá thể của Jean Piaget (1932) và thuyết tương tác xã hội của Lev S. Vygotsky. Theo Piaget, "ngôn ngữ tự ngã trung tâm chiếm 56% trong ngôn ngữ của trẻ 3 tuổi và giảm dần đi ở tuổi 6-7 tuổi. Tới lúc này, ngôn ngữ tự ngã trung tâm ở trẻ chỉ chiếm 27%". Ngược lại, Vygotsky phản biện mạnh mẽ khi chứng minh ngôn ngữ không chỉ là sản phẩm thụ động của nhận thức mà là công cụ điều khiển tư duy; tương tác xã hội qua ngôn ngữ là nguồn gốc của các chức năng tâm lí cấp cao. Viện sĩ A.N. Leontiev bổ sung rằng phát triển lời nói của trẻ thực chất là phát triển phương thức giao tiếp hoạt động.

Tiêu chí phân tích Nghiên cứu quốc tế (Penny Tassoni & Kate Beith; Otto Beverly) Nghiên cứu tiền nhiệm trong nước (Trần Thị Phương, 2006; Phan Thiều) Luận án Nguyễn Thị Minh Phương
Góc độ tiếp cận Khung phát triển ngôn ngữ tích hợp 5 thành tố (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng, liên tưởng). Tách rời: Hoặc thuần túy thao tác tư duy toán/môi trường (Trần Thị Phương), hoặc dạy nói chung chung (Phan Thiều). Tích hợp kép: Thao tác tư duy logic kết hợp nghệ thuật tu từ tiếng Việt.
Bình diện ứng dụng Chăm sóc tổng thể và giao tiếp xã hội (Nursery Nursing). Thao tác nhận biết và phân loại trong hoạt động làm quen môi trường xung quanh. Hai hoạt động chuyên biệt: Khám phá MTXQ (logic) & Làm quen TPVH (thẩm mĩ/tu từ).
Độ sâu thao tác Mô tả mốc phát triển 5 tuổi đạt khoảng 5.000 từ, cấu trúc câu phức. Trẻ 5–6 tuổi bắt đầu nhận biết dấu hiệu bản chất nhưng chưa có quy trình rèn luyện ngôn ngữ chuẩn hóa. Xây dựng quy trình sư phạm đa bước, dẫn dắt trẻ so sánh cùng lúc 3 đối tượng và so sánh dị loại.

Luận án định vị chính xác khoảng trống: chuyển hóa các lí thuyết trừu tượng về ZPD và cấu trúc tu từ thành một bộ công cụ thực hành sư phạm chi tiết cho giáo viên mầm non.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và làm phong phú hệ thống lí luận giáo dục mầm non thông qua ba đóng góp cốt lõi:

  1. Tái định nghĩa bản chất kĩ năng so sánh ở lứa tuổi 5–6: Luận án chứng minh so sánh ở trẻ mẫu giáo lớn không chỉ dừng lại ở tri giác cảm tính bề ngoài (màu sắc, kích thước) mà là một năng lực phức hợp gồm 3 khâu tư duy (tri giác tổng thể, phân tích lưỡng phân các dấu hiệu, tổng hợp khái quát hóa) gắn liền với thao tác tạo lập cấu trúc ngôn ngữ.
  2. Kế thừa và phát triển lí thuyết Vygotsky: Cụ thể hóa khái niệm Vùng phát triển gần nhất (ZPD) vào hoạt động ngôn ngữ mầm non. Việc trẻ hiểu được so sánh trước khi tự phát ngôn ra câu so sánh chứng minh quy luật nhận thức đi trước ngôn ngữ ở một giai đoạn cục bộ; sự can thiệp sư phạm đóng vai trò "giàn giáo" (scaffolding) đưa trẻ từ ngôn ngữ tình huống sang ngôn ngữ ngữ cảnh mạch lạc.
  3. Mô hình hóa các dạng thức so sánh tiếp nhận phù hợp tâm lí lứa tuổi: Hệ thống hóa các mô hình từ so sánh ngang bằng (như, giống như), hơn kém (chẳng bằng, hơn) đến so sánh liên tưởng chuyển đổi cảm giác (thính giác – thị giác).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột:

  • Nguyên tắc sư phạm cốt lõi: Bám sát Chương trình GDMN 2017; triệt để thực hiện phương châm "học mà chơi, chơi mà học"; rèn luyện có hệ thống, tăng tiến từ "vừa sức" (so sánh 2 đối tượng đồng loại) đến "tạo sức" (so sánh 3 đối tượng, so sánh dị loại, so sánh ẩn dụ).
  • Hệ tương tác 3 chiều: Giáo viên tương tác gợi mở $\leftrightarrow$ Đồ dùng trực quan/ngữ liệu văn học $\leftrightarrow$ Trẻ chủ động trải nghiệm, đong đếm, nhập vai.
  • Điều kiện biên (Boundary conditions): Trẻ đạt mức phát triển thể chất và ngôn ngữ chuẩn ở độ tuổi 5–6 tuổi, không mắc khuyết tật phát âm hay suy giảm thính lực; giáo viên nắm vững kĩ thuật điều phối trò chơi ngôn ngữ.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên lập trường thực chứng (Positivism) kết hợp diễn giải thực tế sư phạm (Pragmatic Educational Constructivism). Luận án triển khai thiết kế nghiên cứu thực nghiệm hỗn hợp (Mixed-Methods Experimental Design) kết hợp đa phương thức:

  • Thiết kế đa tầng (Multi-level design): Phân tích ở cấp độ chương trình giáo dục mầm non quốc gia $\rightarrow$ Cấp độ nhận thức và phương pháp của giáo viên $\rightarrow$ Cấp độ hành vi và năng lực ngôn ngữ trực tiếp của trẻ.
  • Mẫu khảo sát thực trạng: Khảo sát diện rộng lấy ý kiến giáo viên mầm non thông qua phiếu trưng cầu, kết hợp dự giờ quan sát hoạt động của trẻ 5–6 tuổi tại các cơ sở mầm non đại diện trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và kiểm định dữ liệu tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt:

  1. Phương pháp phân tích lưỡng phân (Dichotomous Analysis): Chia tách chỉnh thể cấu trúc câu so sánh của trẻ thành các vế (Chủ thể A – Chuẩn so sánh B – Quan hệ từ – Phương diện so sánh) để đánh giá độ chuẩn xác về ngữ pháp và tính độc đáo về ngữ nghĩa.
  2. Tam giác đạc dữ liệu (Triangulation): Kết hợp chéo giữa dữ liệu phiếu hỏi giáo viên, biên bản quan sát băng hình dự giờ thực tế, và kết quả kiểm tra trực tiếp từng cá nhân trẻ trước và sau can thiệp sư phạm.
  3. Độ tin cậy và chuẩn mực đánh giá: Xây dựng thang đo tiêu chí năng lực so sánh đa mức độ (Mức 1: Chưa so sánh được; Mức 2: So sánh dựa trên dấu hiệu bề ngoài có sự gợi ý; Mức 3: Độc lập so sánh đúng dấu hiệu bản chất; Mức 4: Sử dụng câu so sánh tu từ giàu hình ảnh, biểu cảm).

Data và phân tích

  • Phân tích thực trạng: Dữ liệu chỉ ra khoảng trống lớn: mặc dù giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của so sánh, nhưng việc rèn luyện còn mang tính tự phát, thiếu giáo án chuyên biệt, câu hỏi gợi mở còn đơn điệu (chủ yếu hỏi "to hơn hay nhỏ hơn" trong giờ toán, ít chú trọng so sánh tu từ trong giờ văn học).
  • Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức các giáo án thực nghiệm đối chứng tại lớp mẫu giáo lớn. Phân tích thống kê so sánh kết quả lớp Thực nghiệm (TN) và lớp Đối chứng (ĐC) chứng minh sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê về cả tần suất phát ngôn câu so sánh lẫn chất lượng nghệ thuật của câu nói.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn đã mang lại 4 phát hiện bước ngoặt:

  1. Trẻ 5–6 tuổi sở hữu năng lực so sánh đồng thời 3 đối tượng: Vượt qua các giả định trước đây cho rằng trẻ chỉ so sánh được cặp đôi nhị phân, nghiên cứu khẳng định khi được cung cấp vật phẩm trực quan và thao tác thực nghiệm (ví dụ: đong lượng nước ở 3 bình, đo chiều dài 3 sợi dây), trẻ mẫu giáo lớn hoàn toàn xác lập được mối quan hệ so sánh trật tự chuỗi phức tạp.
  2. Sự bùng nổ của năng lực so sánh dị loại và chuyển đổi cảm giác: Khi tiếp cận với văn học (như bài thơ "Cánh diều như dấu á", "O tròn như trứng gà"), trẻ không chỉ nhận biết sự tương đồng hình thức mà còn biết tạo ra các so sánh bất ngờ giữa người và vật, giữa sự vật cụ thể và cảm xúc trừu tượng.
  3. Phá vỡ tính bám dính của ngôn ngữ tình huống: Nhờ quy trình rèn luyện, tỉ lệ trẻ dùng ngôn ngữ tự do thoát li khỏi đồ vật trước mặt tăng mạnh. Trẻ biết dùng từ so sánh để hồi tưởng và miêu tả lại các sự vật trong kí ức ("Trăng tối qua tròn như cái đĩa").
  4. Hiện tượng nhận thức đi trước ngôn ngữ: Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và Nguyễn Thị Như Mai ghi nhận: "Về ngữ âm và ngữ điệu, trẻ phát âm tương đối chuẩn... do sự tích lũy trong quá trình giao tiếp, trẻ cũng phong phú dần lên". Tuy nhiên, nếu thiếu sự hỗ trợ từ ngữ so sánh từ giáo viên, trẻ gặp hiện tượng "bế tắc từ ngữ" dù đã nhận thức rõ sự khác biệt của vật thể.

Implications đa chiều

  • Về mặt lí luận: Khẳng định tính đúng đắn của việc lồng ghép tu từ học vào phương pháp giáo dục mầm non, làm cầu nối giữa tâm lí học nhận thức của Vygotsky và lí luận ngôn ngữ học thực hành.
  • Về mặt thực tiễn sư phạm: Cung cấp cho giáo viên mầm non hệ thống quy trình 4 bước rèn kĩ năng so sánh trong hoạt động Khám phá môi trường xung quanh (Quan sát tri giác $\rightarrow$ Thao tác phân tích $\rightarrow$ Đặt câu so sánh $\rightarrow$ Trò chơi củng cố) và hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học (Cảm thụ hình tượng $\rightarrow$ Tách chiết câu thơ so sánh $\rightarrow$ Giải mã nét tương đồng $\rightarrow$ Sáng tạo câu so sánh mới).
  • Về chính sách giáo dục: Đóng góp cơ sở thực nghiệm vững chắc để Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn hóa tài liệu hướng dẫn giáo viên mầm non phát triển ngôn ngữ mạch lạc theo Chương trình GDMN mới.

Limitations và Future Research

  1. Giới hạn phạm vi địa bàn và loại hình trường: Mẫu nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các trường mầm non đô thị và nông thôn thuộc hệ thống công lập, dân lập chuẩn; chưa mở rộng khảo sát tại các vùng sâu vùng xa, miền núi, nơi trẻ em dân tộc thiểu số học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai.
  2. Ranh giới thời gian can thiệp: Thực nghiệm sư phạm tiến hành theo giai đoạn năm học; chưa triển khai nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá tác động kéo dài của kĩ năng so sánh tiền học đường lên kết quả học môn Tiếng Việt khi trẻ lên lớp 1, lớp 2.
  3. Chương trình nghiên cứu tương lai:
    • Xây dựng phần mềm/ứng dụng trò chơi số hóa (Gamified Digital Learning) hỗ trợ trẻ tự rèn luyện câu so sánh tại gia đình.
    • Nghiên cứu ứng dụng quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ hoặc trẻ tự kỉ trong môi trường giáo dục hòa nhập.
    • Mở rộng so sánh đối chiếu đa văn hóa về năng lực tạo lập hình tượng so sánh của trẻ em Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Dự báo công trình sẽ trở thành tài liệu tham khảo nền tảng trong các giáo trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học tại các trường Đại học Sư phạm trên toàn quốc.
  • Tác động đổi mới ngành giáo dục: Bộ quy trình thực nghiệm cung cấp tài liệu tập huấn chuyên môn trực tiếp cho hàng chục nghìn giáo viên mầm non, nâng cao chất lượng các tiết dạy chuyên đề cấp Quận/Huyện và Tỉnh/Thành phố.
  • Lợi ích xã hội: Giúp trẻ 5–6 tuổi tự tin trong giao tiếp, kích hoạt trí tưởng tượng sáng tạo, giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng chuyển tiếp tâm lí khi bước từ mầm non sang tiểu học.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giảng viên ngành Khoa học Giáo dục: Tiếp cận một khung phân tích liên ngành hoàn chỉnh giữa Tu từ học Tiếng Việt và Tâm lí học lứa tuổi.
  • Giáo viên mầm non: Sở hữu cẩm nang sư phạm thực chiến với các kĩ thuật đặt câu hỏi, thiết kế trò chơi so sánh trực quan và cách khai thác ngữ liệu văn học hiệu quả.
  • Cán bộ quản lí & Chuyên viên mầm non: Có tiêu chí định lượng để đánh giá năng lực ngôn ngữ và tư duy của trẻ theo chuẩn đầu ra lứa tuổi 5–6 tuổi.
  • Tác giả biên soạn SGK & Học liệu mầm non: Căn cứ vào năng lực tiếp nhận so sánh của trẻ để chọn lọc các văn bản thơ ca và thiết kế bài tập nhận thức phù hợp.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã mở rộng Thuyết Vùng phát triển gần nhất (ZPD) của L.S. Vygotsky bằng cách chứng minh rằng: đối với trẻ 5–6 tuổi, năng lực tu từ học không phải là năng khiếu bẩm sinh ngẫu nhiên mà là một cấu trúc nhận thức có thể rèn luyện thông qua giàn giáo sư phạm. Bằng cách tích hợp lí thuyết thao tác tư duy logic của D.P. Gorki với lí luận so sánh tu từ của Đinh Trọng Lạc, tác giả đã kiến tạo mô hình "Bản chất kép của So sánh mầm non", biến so sánh từ một đối tượng thuần túy miêu tả ngôn ngữ học thành một công cụ phát triển trí tuệ chủ động.

2. Phương pháp nghiên cứu đổi mới như thế nào khi so sánh với các công trình trước?

Khi so sánh với công trình của Trần Thị Phương (2006) – vốn chỉ tập trung vào thao tác trí tuệ trong khám phá khoa học – và công trình của Phan Thiều (1997) – chỉ dừng lại ở các nguyên tắc dạy nói chung chung: "Lúc đầu đặt câu hỏi cho cả lớp cùng suy nghĩ rồi sau đó mới chỉ định từng trẻ trả lời...", luận án của Nguyễn Thị Minh Phương đã tạo bước đột phá phương pháp luận:

  • Ứng dụng phương pháp phân tích lưỡng phân ngôn ngữ học trực tiếp trên phát ngôn của trẻ mầm non.
  • Thiết kế quy trình can thiệp sư phạm song hành trên cả 2 phân môn: Khám phá môi trường xung quanh (logic thực nghiệm) và Làm quen tác phẩm văn học (cảm thụ hình tượng).

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?

Dữ liệu chỉ ra rằng trẻ 5–6 tuổi hoàn toàn có khả năng chuyển đổi cảm giác tu từ (nghe âm thanh nhưng so sánh với hình ảnh thị giác, ví dụ tiếng mưa rơi "như hạt ngọc bay") nếu giáo viên kích hoạt đúng điểm tựa liên tưởng. Điều này bác bỏ quan niệm truyền thống cho rằng trẻ mầm non chỉ có thể so sánh các vật phẩm hữu hình cụ thể đặt ngay trước mắt.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?

Có. Luận án mô tả chi tiết toàn bộ hệ thống giáo án thực nghiệm, các tiêu chí đánh giá năng lực so sánh (thang đo 4 mức độ), danh mục trò chơi ngôn ngữ, cùng hệ thống câu hỏi mẫu dành cho giáo viên, cho phép các nhà nghiên cứu và giáo viên khác có thể tái lập hoàn toàn quy trình này ở bất kì trường mầm non nào.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo ra sao?

Chương trình nghiên cứu mở rộng định hướng theo 3 giai đoạn: (1) Chuẩn hóa bộ công cụ rèn luyện kĩ năng so sánh trên nền tảng số hóa tương tác; (2) Thực hiện nghiên cứu dọc theo dõi sự phát triển năng lực làm văn miêu tả của trẻ từ mầm non đến hết bậc tiểu học; (3) Mở rộng mô hình can thiệp ngôn ngữ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em dân tộc thiểu số.


Kết luận

  1. Xác lập cơ sở khoa học liên ngành: Luận án đã hệ thống hóa và chứng minh một cách tường minh rằng so sánh là hoạt động kép: vừa là thao tác tư duy nhận thức thế giới, vừa là biện pháp tu từ nghệ thuật tối ưu hóa diễn đạt cho trẻ 5–6 tuổi.
  2. Khảo sát thực trạng khách quan: Phản ánh đúng bức tranh giáo dục mầm non hiện nay: giáo viên đã có ý thức rèn luyện so sánh cho trẻ nhưng còn mang tính trực giác, ngẫu nhiên và thiếu quy trình phương pháp luận chuẩn xác.
  3. Đề xuất quy trình sư phạm khả thi: Thiết lập thành công hệ thống các bước rèn luyện kĩ năng so sánh chuyên biệt trong hoạt động Khám phá môi trường xung quanh và Làm quen với tác phẩm văn học, tuân thủ nguyên tắc "từ dễ đến khó, từ vừa sức đến tạo sức".
  4. Kiểm chứng thực nghiệm vững chắc: Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính hiệu quả vượt trội của quy trình đề xuất, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về cả tư duy phân tích, tổng hợp lẫn năng lực sáng tạo câu nói giàu hình ảnh ở trẻ mẫu giáo lớn.
  5. Mở ra hướng tiếp cận năng lực toàn diện: Đặt nền móng vững chắc cho phương pháp dạy tiếng Việt mầm non tiếp cận theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, kết nối liên thông chặt chẽ với chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học.