Tổng quan luận án

Công trình "Rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Quang Ninh, thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Bộ môn Văn - Tiếng Việt (mã số 9140111) tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận án giải quyết vấn đề rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ kết hợp phát triển thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các hoạt động giáo dục chuyên biệt trong trường mầm non.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình nhận thức của con người, so sánh là một trong những thao tác trí tuệ cơ bản được sử dụng để khám phá hiện thực khách quan và là phương thức suy luận chiếm ưu thế ở giai đoạn đầu nhận thức. Khi đi vào hoạt động ngôn ngữ, so sánh trở thành một biện pháp tu từ giúp lời nói trở nên sinh động, giàu hình ảnh, hỗ trợ con người bộc lộ tình cảm và thái độ đối với đối tượng. Đối với lứa tuổi mầm non, thế giới được cảm nhận thông qua sự liên tưởng hồn nhiên; trẻ sử dụng trí tưởng tượng và sự đối chiếu ngây thơ để nắm bắt thế giới xung quanh.

Tuy nhiên, việc hình thành và sử dụng so sánh trong diễn đạt là một quá trình phức tạp đối với trẻ. Tại các cơ sở giáo dục mầm non, mặc dù giáo viên đã bước đầu lưu ý đến việc hướng dẫn trẻ so sánh trong các hoạt động chăm sóc - giáo dục, hoạt động này nhìn chung vẫn diễn ra tự phát, thiếu tính hệ thống và chưa có một quy trình sư phạm bài bản. Đồng thời, qua khảo sát tài liệu chuyên ngành, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về việc sử dụng so sánh trước đây chủ yếu tập trung vào đối tượng học sinh bậc tiểu học và trung học; mảng nghiên cứu chuyên sâu về rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn vẫn còn thiếu vắng. Do đó, việc xây dựng một quy trình khoa học nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi là một yêu cầu cấp thiết của thực tiễn giáo dục mầm non.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định là: Phân tích làm sáng rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trường mầm non; từ đó đề xuất một quy trình với những chỉ dẫn cụ thể trong việc tổ chức rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ trong hoạt động Khám phá môi trường xung quanh và hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học (trọng tâm là thơ ca).

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu lí luận về những vấn đề liên quan tới hoạt động so sánh, thao tác so sánh, phép tu từ so sánh, cơ sở tiếp nhận cũng như đặc điểm sử dụng và phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 5 – 6 tuổi.
  2. Khảo sát và thống kê thực trạng kĩ năng so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non; qua đó phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động rèn luyện kĩ năng này của giáo viên.
  3. Tìm hiểu nội dung và phương pháp rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi đã và đang được triển khai trong chương trình giáo dục mầm non.
  4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và khẳng định tính khả thi, hiệu quả của quy trình rèn luyện cùng các đề xuất do luận án xây dựng.

Giả thuyết khoa học

Giả thuyết khoa học của luận án nêu rõ: So sánh là một hoạt động thường gặp ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, vừa đóng vai trò là một thao tác tư duy giúp trẻ khám phá, nhận thức thế giới, vừa là một phương tiện ngôn ngữ giúp nâng cao hiệu quả diễn đạt. Do đó, nếu giáo viên xây dựng và thực thi được một quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, tuân thủ đúng phương châm "học mà chơi, chơi mà học", thì việc rèn luyện sẽ giúp trẻ phát triển song song cả năng lực tư duy lẫn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp thường nhật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tất cả những hoạt động phối hợp giữa giáo viên và trẻ xoay quanh các nội dung, quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non trong hoạt động giáo dục, cụ thể hóa ở hoạt động Khám phá môi trường xung quanh và Làm quen với tác phẩm văn học.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về đối tượng trẻ: Giới hạn ở trẻ mẫu giáo lớn từ 5 – 6 tuổi. Trẻ ở các độ tuổi nhỏ hơn không thuộc phạm vi nghiên cứu do mức độ phát triển ngôn ngữ chưa hoàn thiện, chưa đủ khả năng biểu đạt tư tưởng thành chuỗi ngôn từ hoàn chỉnh.
    • Về địa bàn và loại hình trường: Nghiên cứu tại các trường mầm non thuộc hệ thống công lập và dân lập tại Việt Nam. Luận án loại trừ loại hình trường quốc tế do sự khác biệt lớn về cơ sở vật chất và điều kiện phương tiện dạy học vượt trội so với mặt bằng chung.
    • Về nội dung hoạt động giáo dục: Trong các nội dung giáo dục mầm non theo Chương trình Giáo dục mầm non (ban hành năm 2017), luận án tập trung vào hai hoạt động được xác định là mang lại hiệu quả cao nhất cho việc rèn luyện kĩ năng so sánh: hoạt động Khám phá môi trường xung quanh và hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học (thể loại thơ ca).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử vấn đề trong luận án được phân tích theo 4 hướng tiếp cận chính:

So sánh như một thao tác tư duy trong triết học và lô gic học

Tác giả điểm lại quan điểm của V.I. Lênin trong Bút kí triết học, xem suy luận tương tự là một dạng suy luận quy nạp cung cấp các tri thức giả thuyết và dự đoán ban đầu dựa trên sự tương đồng giữa các đối tượng. Trong Từ điển Triết học (Liên Xô cũ), so sánh được xác định là việc đối chiếu các đối tượng nhằm phát hiện nét giống và khác nhau, đóng vai trò tiền đề cho thao tác khái quát hóa và hỗ trợ định nghĩa khái niệm.

Trong tác phẩm Lô gic học, D.P. Gorki mô hình hóa suy luận tương tự: từ chỗ đối tượng A có các dấu hiệu $a, b, c, d$ và đối tượng B có các dấu hiệu $a, b, c$, suy ra B có thể có dấu hiệu $d$. Nhà nghiên cứu Trung Quốc Triệu Truyền Đống trong Phương pháp biện luận – Thuật hùng biện nhấn mạnh so sánh là đối chiếu giữa các vật bản chất khác nhau nhưng có điểm tương đồng, dẫn chứng các cuộc đối thoại mang tính so sánh của Ka-li-nin và Tiền Ích Khiêm để chứng minh năng lực làm sáng tỏ chân lí của so sánh. Tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc (ký tên X.Z) nhấn mạnh giá trị của việc "so đi sánh lại" để nhận diện bản chất sự việc. Tác giả Nguyễn Phan Cảnh và Nguyễn Trung Triều phân tích cách Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng so sánh cụ thể hóa các khái niệm trừu tượng (như so sánh dân chủ và chuyên chính với ngôi nhà và cái khóa; so sánh chủ nghĩa tư bản với hình tượng "con đỉa hai vòi" trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, 1925). Tác giả Vương Tất Đạt phân tích các điều kiện lô gic nhằm nâng cao độ tin cậy của phương pháp so sánh.

So sánh như một biện pháp tu từ trong ngôn ngữ học tiếng Việt

Các công trình nền tảng về tu từ học tiếng Việt được luận án khảo cứu chi tiết:

  • Đinh Trọng Lạc với Giáo trình Việt ngữ tập III (phần Tu từ học) (1964) đặt cơ sở lý luận ban đầu về cấu trúc và chức năng của so sánh tu từ; tiếp đó là Thực hành phong cách học tiếng Việt (1993), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Phong cách học tiếng Việt (1997) phân nhóm so sánh vào cụm biện pháp dùng hình ảnh tương đồng; và 300 bài tập phong cách học tiếng Việt (1998) cung cấp hệ thống bài tập thực hành.
  • Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt (1982) phân tích so sánh nghệ thuật mang dấu ấn phong cách thời đại, dân tộc và cá nhân tác giả.
  • Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983) phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí dựa trên mục đích, chức năng và đối tượng; phân loại so sánh theo hình thức (từ ngữ so sánh) và nội dung (so sánh nổi, so sánh chìm).
  • Bùi Trọng Ngoãn trong bài viết Bàn thêm về phép so sánh tu từ thống kê 20 đơn vị biểu đạt quan hệ so sánh và các mô hình cú pháp so sánh. Nguyễn Thế Lịch phân loại so sánh đủ và so sánh khuyết.
  • Các bài viết ứng dụng phân tích phong cách tác giả: Minh Nguyên phân tích cấu trúc so sánh trong ca khúc Trịnh Công Sơn; Đinh Hà Triều khảo cứu so sánh trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân; Nguyễn Thế Truyền với Vài điều lí thú về phép so sánh.

Sự phát triển tư duy, ngôn ngữ và năng lực so sánh của trẻ em

  • Jean Piaget phân tích tư duy tự kỉ trung tâm và chỉ ra tỉ lệ ngôn ngữ tự ngã trung tâm chiếm 56% ở trẻ 3 tuổi, giảm dần xuống 27% ở giai đoạn 6 – 7 tuổi khi ngôn ngữ xã hội hóa phát triển.
  • L.S. Vưgotxki khẳng định ngôn ngữ là nền tảng của mọi quá trình tư duy, hình thành thông qua tương tác xã hội và đưa ra khái niệm "vùng phát triển gần nhất". A.A. Lêonchiev tiếp cận ngôn ngữ dưới góc độ phương thức giao tiếp; Hainơ Dich nhấn mạnh tính giai đoạn của ngôn ngữ; Morrow Mandel Lesley và Otto Bervelly tiếp cận tích hợp các thành tố ngôn ngữ; Penny Tassony và Kate Beith trong Nursery Nursing xác định trẻ 5 tuổi sở hữu vốn từ vựng phong phú và bắt đầu sử dụng câu phức hợp.
  • Ở Việt Nam, Nguyễn Ánh Tuyết và Nguyễn Thị Như Mai trong Sự phát triển tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non chỉ ra trẻ ấu nhi đã tích lũy các biểu tượng thuộc tính làm khuôn mẫu để so sánh; Đinh Hồng Thái trong Phương pháp phát triển lời nói trẻ em nhấn mạnh giai đoạn 3 – 6 tuổi ngôn ngữ phát triển với tốc độ rất nhanh; Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ dưới 6 tuổi.
  • Về thao tác tư duy: X. Guthke xếp so sánh là một trong 5 thao tác cơ bản; J. Lompscher, Ulienkova, Daparogiet, Xorokia, A. Liublinxkaia và A. Mukhina khẳng định khả năng so sánh đối chiếu của trẻ mầm non khi có giáo cụ trực quan hỗ trợ.

Các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên trẻ mầm non

Các nghiên cứu thực tế gồm có bài viết của Bùi Thị Giáng Hương (khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng so sánh 3 đối tượng); khảo sát của các giáo viên Trường Mầm non Yên Sở (quận Hoàng Mai, Hà Nội) về kĩ năng thao tác đồ vật của trẻ; luận án tiến sĩ Tâm lí học của Trần Thị Phương (2006) về Hình thành thao tác so sánh ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tìm hiểu môi trường xung quanh; và chuyên khảo Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp I của Phan Thiều (1978) về các nguyên tắc sư phạm trong giờ dạy nói.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù thao tác so sánh dưới góc độ tâm lí học nhận thức và biện pháp so sánh dưới góc độ tu từ học đã được nghiên cứu độc lập ở nhiều công trình, việc tích hợp hai phương diện này thành một quy trình sư phạm cụ thể nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Luận án định vị là công trình thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Bộ môn Văn - Tiếng Việt, tập trung xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh vừa phát triển tư duy nhận thức, vừa phát triển kĩ năng diễn đạt bằng ngôn từ trong hai hoạt động giáo dục cụ thể của trường mầm non.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cơ bản

  • Khái niệm so sánh: Luận án tổng hợp các định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên; Hoàng Phê chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt và Từ điển Tiếng Việt tiểu học (Nguyễn Như Ý chủ biên), xác định so sánh trong nhận thức đời sống là đối chiếu các sự vật, hiện tượng để tìm ra sự tương đồng, khác biệt hoặc hơn kém. Trong triết học và giáo dục học, so sánh được xem xét là một hoạt động trí tuệ có cấu trúc, có mục đích và mang tính chủ động của con người đối với hiện thực khách quan.
  • Phân loại so sánh trong luận án:
Tiêu chí phân loại Các phân nhóm cụ thể Ngữ liệu minh họa trong luận án
Căn cứ vào dấu hiệu hình thức (từ ngữ so sánh) - So sánh ngang bằng (như, tựa như, giống như, y như)
- So sánh hơn kém (hơn, kém, thua, chẳng bằng)
- So sánh tuyệt đối/khẳng định (là, đẹp nhất là)
- "Tàu vươn giữa trời / Như tay ai vẫy" (Ngô Viết Dinh)
- "Những ngôi sao thức ngoài kia / Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con" (Trần Quốc Minh)
- "Cháu là ngày rạng sáng" (Phạm Cúc)
Căn cứ vào tính biểu cảm, hình tượng - So sánh tu từ (tạo rung cảm nghệ thuật, nhận thức thẩm mĩ)
- So sánh lô gic (tạo nhận thức lí trí, khách quan)
- "Ơ cái dấu hỏi... Như vành tai nhỏ" (Phạm Như Hà)
- "Cháu khỏe hơn ông nhiều" (Phạm Cúc)
Căn cứ vào tính chất đối tượng - So sánh dị loại (khác loại: người với vật, cây cỏ...)
- So sánh đồng loại (cùng loại đối tượng)
- "Bà như quả ngọt chín rồi" (Võ Thanh An)
- "Côn Sơn suối chảy rì rầm / Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai" (Nguyễn Trãi)
Căn cứ vào cấu tạo - So sánh đủ (đủ vế A, vế B, từ so sánh, phương diện so sánh)
- So sánh khuyết (lược bớt từ hoặc phương diện)
- "Tiếng suối trong như tiếng hát xa" (Hồ Chí Minh)
- "Béo như con cun cút" (Thành ngữ)
Căn cứ vào đặc tính so sánh - So sánh tương đồng (tìm nét giống nhau bổ trợ)
- So sánh tương phản (đối lập các mặt trái ngược)
- "Hôm nay trời nóng như nung" (Thanh Hào)
- "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn" (Tục ngữ)
  • Cơ chế tạo giá trị tu từ: Được phân chia theo các kiểu kết hợp đối tượng: người với đồ vật/con vật; cụ thể với cụ thể; cụ thể với trừu tượng; trừu tượng với cụ thể; trừu tượng với trừu tượng; và so sánh chuyển đổi cảm giác (thính giác chuyển sang thị giác, xúc giác).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn:

  1. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Vận dụng kĩ thuật phân tích lưỡng phân để phân tách các hiện tượng ngôn ngữ thành các yếu tố, bình diện nhỏ hơn về ngữ âm, ngữ nghĩa, cú pháp; sau đó tổng hợp khái quát cấu trúc và các biến thể của so sánh.
  2. Phương pháp thống kê: Tính toán, xử lí số liệu thu thập được từ các đợt khảo sát thực tế và các giai đoạn thực nghiệm sư phạm để lượng hóa mức độ phát triển kĩ năng của trẻ.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu các hiện tượng ngôn ngữ, đối chiếu khả năng tiếp nhận và diễn đạt của trẻ ở các nhóm khảo sát, đối chứng và thực nghiệm.
  4. Phương pháp điều tra - khảo sát: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên mầm non; quan sát trực tiếp và dự giờ các hoạt động giáo dục trên lớp; trao đổi, phỏng vấn phụ huynh và trẻ em.
  5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại các lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi nhằm kiểm chứng hiệu quả và tính khả thi của quy trình đề xuất, trả lời ba câu hỏi sư phạm cốt lõi: "Dạy cái gì?", "Dạy thế nào?" và "Vì sao lại dạy như thế?".

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản Chương trình Giáo dục mầm non (năm 2017) của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Tuyển tập các bài thơ, câu đố, bài hát và câu chuyện phù hợp với lứa tuổi 5 – 6 tuổi trong chương trình mầm non.
  • Phiếu điều tra khảo sát giáo viên mầm non, biên bản dự giờ quan sát các tiết dạy thực tế và giáo án thực nghiệm sư phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo 4 trục nội dung:

  • Xác định bản chất của so sánh như một thao tác tư duy nhận thức trong lô gic học và triết học; dẫn giải các nghiên cứu kinh điển khẳng định so sánh là nền tảng của suy luận tương tự, giúp biến đổi các tri thức giả định thành nhận thức bản chất.
  • Phân tích so sánh dưới tư cách là một biện pháp tu từ trong ngôn ngữ học tiếng Việt: làm rõ cấu trúc 4 thành tố (chủ thể so sánh A, phương diện so sánh, từ so sánh, chuẩn so sánh B); hệ thống hóa các cách phân loại so sánh và làm rõ giá trị tạo hình, biểu cảm của so sánh tu từ trong diễn đạt ngôn từ và trong phong cách nghệ thuật.
  • Làm rõ cơ sở tâm lí học về sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn: phân tích các luận điểm của Jean Piaget và L.S. Vưgotxki, khẳng định ở giai đoạn 5 – 6 tuổi trẻ bắt đầu bước vào quá trình "phi tập trung hóa", ngôn ngữ xã hội hóa phát triển mạnh mẽ và vốn từ ngữ mở rộng nhanh chóng.
  • Đánh giá năng lực so sánh của trẻ: Trích dẫn các công trình tâm lí học (X. Guthke, Daparogiet, A. Liublinxkaia, Trần Thị Phương) và các báo cáo khảo sát thực tiễn để khẳng định trẻ 5 – 6 tuổi hoàn toàn có đủ năng lực nhận thức các dấu hiệu so sánh trực quan, thậm chí có khả năng so sánh đồng thời 3 đối tượng nếu được hỗ trợ bằng hệ thống câu hỏi gợi mở và phương tiện trực quan.

Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động giáo dục

  • Cơ sở lí luận: Luận án chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ: "so sánh", "hoạt động so sánh", "thao tác so sánh", "kĩ năng so sánh". Phân tích đặc điểm tâm lí lứa tuổi và các yếu tố tác động đến quá trình lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi: trẻ tri giác chủ yếu bằng hình ảnh trực quan, khả năng phân tích thuộc tính đối tượng dựa vào các giác quan cụ thể (màu sắc, hình dạng, kích thước, âm thanh).
  • Cơ sở thực tiễn:
    • Khảo sát chương trình giáo dục mầm non hiện hành: Nội dung rèn luyện thao tác so sánh có xuất hiện trong hoạt động Làm quen với toán (so sánh kích thước, số lượng, chiều dài) và hoạt động Khám phá khoa học, nhưng việc rèn luyện so sánh tu từ trong hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học còn tản mạn.
    • Khảo sát thực trạng dạy và học: Tác giả tiến hành phát phiếu điều tra giáo viên, dự giờ các tiết học khám phá môi trường xung quanh và làm quen tác phẩm văn học tại một số trường mầm non. Kết quả cho thấy phần lớn giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của so sánh nhưng còn lúng túng về phương pháp tổ chức; đa số chỉ dừng lại ở việc yêu cầu trẻ chỉ ra sự khác biệt bên ngoài mà chưa hướng dẫn trẻ cách khái quát thành câu có hình ảnh so sánh. Trẻ hiểu được sự khác nhau giữa các vật nhưng thiếu vốn từ và cấu trúc ngữ pháp để diễn đạt thành lời nói so sánh trọn vẹn.

Chương 3: Tổ chức rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động khám phá môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học

Chương này là nội dung trọng tâm của luận án, đề xuất hệ thống nguyên tắc, yêu cầu và quy trình thực hiện:

  • Hệ thống 4 nguyên tắc rèn luyện:
    1. Phải bám sát nội dung Chương trình Giáo dục mầm non: Đảm bảo tính pháp lí và mục tiêu chung của cấp học.
    2. Phải đảm bảo tinh thần "học mà chơi, chơi mà học": Tổ chức rèn luyện thông qua hệ thống trò chơi ngôn ngữ, tạo cảm giác thoải mái, không biến hoạt động thành các tiết học lí thuyết khô cứng.
    3. Phải rèn luyện một cách hệ thống và liên tục: Việc luyện tập phải được tích hợp xuyên suốt, lặp lại qua các chủ đề giáo dục khác nhau.
    4. Phải rèn luyện từ dễ đến khó, từ "vừa sức" đến "tạo sức": Bắt đầu từ so sánh nhận biết trực quan các nét tương đồng/dị biệt đơn giản đến việc tạo lập các câu so sánh tu từ phức hợp.
  • Hệ thống 3 yêu cầu sư phạm:
    1. Luôn tương tác với trẻ trong quá trình quan sát sự vật, hiện tượng.
    2. Luôn trực tiếp tham gia cùng trẻ trong các trò chơi rèn luyện so sánh.
    3. Luôn kiến tạo các tình huống giao tiếp tự nhiên để kích thích trẻ tự phát ngôn các câu chứa hình ảnh so sánh.
  • Quy trình rèn luyện chuyên biệt cho 2 hoạt động giáo dục:
    • Trong hoạt động Khám phá môi trường xung quanh:
      • Bước 1: Cho trẻ quan sát trực tiếp đối tượng (sử dụng tối đa các giác quan: nhìn, nghe, sờ, nếm, ngửi).
      • Bước 2: Hướng dẫn trẻ phân tích, tách rời các dấu hiệu, thuộc tính của đối tượng.
      • Bước 3: Tổ chức cho trẻ đối chiếu, tìm ra các dấu hiệu tương đồng hoặc khác biệt giữa hai hoặc ba đối tượng.
      • Bước 4: Hướng dẫn trẻ lựa chọn từ ngữ so sánh phù hợp (như, to hơn, nhỏ hơn, giống như...) để diễn đạt kết quả so sánh thành câu hoàn chỉnh.
    • Trong hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học (thơ ca):
      • Bước 1: Hướng dẫn trẻ tiếp cận bài thơ, tri giác toàn vẹn văn bản ngôn từ.
      • Bước 2: Giúp trẻ nhận diện và tách các từ ngữ, hình ảnh so sánh có trong bài thơ (thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của cô).
      • Bước 3: Hướng dẫn trẻ phân tích ý nghĩa thẩm mĩ và sự tương đồng bất ngờ giữa vế A và vế B trong câu thơ.
      • Bước 4: Tổ chức trò chơi tập thể hoặc bài tập sáng tạo ngôn ngữ để trẻ tự bắt chước mô hình câu, vận dụng tạo ra các câu so sánh mới gắn với đời sống của chính mình.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

  • Mục đích thực nghiệm: Kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, đánh giá hiệu quả và tính khả thi của quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh đã được thiết kế tại Chương 3.
  • Tổ chức thực nghiệm:
    • Xác định đối tượng trẻ tại các lớp mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi, chia thành nhóm thực nghiệm (dạy theo quy trình mới của luận án) và nhóm đối chứng (dạy theo phương pháp thông thường).
    • Lựa chọn địa bàn trường mầm non phù hợp; tập huấn, trao đổi kĩ lưỡng nội dung giáo án thực nghiệm với giáo viên trực tiếp đứng lớp.
    • Tiến hành thực nghiệm trên lớp thông qua chuỗi giáo án hoạt động Khám phá môi trường xung quanh và Làm quen với tác phẩm văn học đã được thiết kế.
  • Đánh giá và phân tích kết quả:
    • Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kĩ năng so sánh của trẻ: mức độ nhận diện dấu hiệu tương đồng/khác biệt; khả năng sử dụng các từ ngữ biểu đạt so sánh; khả năng nói câu có biện pháp so sánh tu từ một cách tự nhiên.
    • Phân tích định tính và định lượng kết quả trước và sau thực nghiệm. Số liệu chứng minh ở nhóm thực nghiệm, trẻ thể hiện sự tiến bộ rõ rệt về độ nhạy bén trong quan sát đối tượng, phát âm chuẩn xác, sử dụng linh hoạt các từ nối so sánh và tạo lập được những câu nói giàu hình ảnh, biểu cảm vượt trội so với nhóm đối chứng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  • Luận án đã hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lí luận liên ngành bao gồm ngôn ngữ học tu từ, lô gic học, giáo dục học mầm non và tâm lí học phát triển lứa tuổi về thao tác so sánh và biện pháp tu từ so sánh.
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa thao tác tư duy so sánh và biện pháp tu từ so sánh trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), khẳng định so sánh vừa là công cụ phát triển tư duy nhận thức vừa là phương tiện nâng cao năng lực biểu cảm của lời nói.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá khách quan thực trạng rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non Việt Nam hiện nay, chỉ ra những hạn chế cố hữu trong phương pháp dạy học của giáo viên và khó khăn ngôn ngữ của trẻ.
  • Xây dựng thành công một quy trình sư phạm 4 bước mạch lạc, chi tiết, kèm theo hệ thống nguyên tắc và yêu cầu thực hiện cụ thể cho hai hoạt động giáo dục trọng tâm: Khám phá môi trường xung quanh và Làm quen với tác phẩm văn học.
  • Đề xuất hệ thống bài tập, trò chơi ngôn ngữ và giáo án mẫu có tính ứng dụng cao, giúp giáo viên mầm non có công cụ trực tiếp để rèn luyện kĩ năng diễn đạt giàu hình ảnh cho trẻ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề nghị các cơ quan quản lí giáo dục và các trường cao đẳng, đại học sư phạm cập nhật nội dung rèn luyện kĩ năng so sánh tu từ vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non.
  • Khuyến nghị giáo viên mầm non cần chủ động tích hợp hoạt động rèn luyện so sánh vào mọi thời điểm trong ngày của trẻ, triệt để khai thác phương châm "học mà chơi, chơi mà học", tránh áp đặt cách hiểu của người lớn lên sự liên tưởng tự nhiên của trẻ thơ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Về phạm vi khảo sát và thực nghiệm: Luận án chỉ tiến hành khảo sát và thực nghiệm trên nhóm trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập và dân lập; chưa mở rộng sang loại hình trường quốc tế do sự chênh lệch lớn về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và giáo cụ trực quan.
  • Về phạm vi hoạt động giáo dục: Đề tài mới chỉ tập trung sâu vào hai nội dung là Khám phá môi trường xung quanh và Làm quen với tác phẩm văn học (thể loại thơ ca), chưa có điều kiện mở rộng khảo sát và xây dựng quy trình rèn luyện trên các hoạt động giáo dục khác như hoạt động phát triển thể chất hay hoạt động tạo hình.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục nghiên cứu mở rộng quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh sang các thể loại văn học khác dành cho trẻ mầm non như truyện kể, đồng dao, ca dao.
  • Nghiên cứu ứng dụng quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh cho các lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi) với các yêu cầu và mức độ điều chỉnh phù hợp với tiến trình phát triển tâm lí lứa tuổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị về mặt phương pháp luận nghiên cứu liên ngành giữa phương pháp dạy học tiếng Việt, phong cách học tu từ và tâm lí học nhận thức mầm non; cung cấp khung phân tích cấu trúc so sánh tu từ chi tiết.
  • Đối với cán bộ quản lí, chuyên viên phụ trách giáo dục mầm non: Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ, từ đó định hướng biên soạn tài liệu hướng dẫn chuyên môn và cải tiến chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo lớn.
  • Đối với giáo viên mầm non: Cung cấp một quy trình hướng dẫn cụ thể từng bước, hệ thống bài tập thực hành, các trò chơi so sánh và hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu có thể vận dụng trực tiếp vào các giờ dạy trên lớp hàng ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chỉ tập trung rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi mà không chọn trẻ ở độ tuổi nhỏ hơn?

Theo phân tích của luận án, ở các độ tuổi nhỏ hơn, mặc dù trẻ đã bước đầu tích lũy được một số biểu tượng cảm tính về thuộc tính vật thể (to – nhỏ, dài – ngắn), nhưng năng lực ngôn ngữ của trẻ chưa phát triển đầy đủ. Trẻ chưa có khả năng diễn đạt nhận thức nội tâm thành các câu nói trọn vẹn và ngôn ngữ còn phụ thuộc chặt chẽ vào ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Ở giai đoạn 5 – 6 tuổi, ngôn ngữ của trẻ bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ về vốn từ và cấu trúc ngữ pháp; trẻ bắt đầu quá trình "phi tập trung hóa" và có khả năng nói câu phức, đủ điều kiện tiếp nhận và vận dụng quy trình rèn luyện kĩ năng so sánh tu từ.

2. Hai hoạt động giáo dục nào được luận án lựa chọn để tổ chức rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ?

Luận án xác định hai hoạt động giáo dục mang lại hiệu quả cao nhất trong chương trình mầm non là hoạt động Khám phá môi trường xung quanh (giúp trẻ rèn luyện thao tác tư duy quan sát, nhận diện dấu hiệu bản chất, so sánh lô gic) và hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học, trọng tâm là thơ ca (giúp trẻ cảm thụ hình ảnh nghệ thuật, giải mã các liên tưởng thẩm mĩ và rèn luyện kĩ năng diễn đạt so sánh tu từ).

3. Luận án đề xuất mấy nguyên tắc sư phạm và yêu cầu cốt lõi trong tổ chức rèn luyện?

Tác giả đề xuất hệ thống 4 nguyên tắc (Bám sát Chương trình Giáo dục mầm non; Đảm bảo tinh thần "học mà chơi, chơi mà học"; Rèn luyện hệ thống và liên tục; Rèn luyện từ dễ đến khó, từ "vừa sức" đến "tạo sức") cùng 3 yêu cầu sư phạm bắt buộc đối với giáo viên (Luôn tương tác với trẻ trong quan sát; Luôn cùng tham gia các trò chơi so sánh; Luôn tạo tình huống giao tiếp kích thích trẻ nói lời so sánh).

4. Cơ sở nào khẳng định trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có khả năng so sánh đồng thời ba đối tượng?

Luận án dẫn chứng các khảo sát thực tế của Bùi Thị Giáng Hương tại Thành phố Hồ Chí Minh, thực tế tại Trường Mầm non Yên Sở (Hà Nội) và các nghiên cứu tâm lí học của Daparogiet, A. Liublinxkaia, Trần Thị Phương. Ở lứa tuổi 5 – 6, trẻ có sự khéo léo trong các thao tác vận động với vật thể (như nếm, ngửi, đong, đo); vốn sống và vốn ngôn ngữ tích lũy cho phép trẻ khám phá đối tượng chi tiết hơn, tạo nên bước chuyển về chất từ dạng so sánh sơ khai sang so sánh chính thức giữa 3 đối tượng cùng lúc.

Kết luận

Luận án "Rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục" của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp phát triển ngôn ngữ kết hợp rèn luyện tư duy cho trẻ mẫu giáo lớn. Tác giả đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thao tác tư duy so sánh trong lô gic học và biện pháp so sánh tu từ trong ngôn ngữ học tiếng Việt. Bằng việc đề xuất một quy trình sư phạm 4 bước cụ thể cho hai hoạt động giáo dục trọng tâm cùng các minh chứng thực nghiệm xác đáng, luận án cung cấp những giải pháp sư phạm thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường mầm non hiện nay.