Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học, môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành bốn kỹ năng giao tiếp cốt lõi: Đọc – Viết – Nói – Nghe. Trong đó, kỹ năng đọc được xác định là công cụ quan trọng hàng đầu giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, phát triển tư duy ngôn ngữ và tiếp thu các môn học khác. Đối với học sinh lớp 2, việc chuyển giao từ giai đoạn "học đọc" ở lớp 1 sang giai đoạn "đọc để học" đặt ra yêu cầu kỹ thuật đọc cao hơn: học sinh cần đạt tốc độ đọc từ 60 đến 70 tiếng/phút, biết ngắt nghỉ hơi đúng dấu câu, ngắt nhịp thơ và bước đầu đọc hiểu nội dung văn bản.

Thực tiễn triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 với bộ sách giáo khoa "Kết nối tri thức với cuộc sống" tại nhiều trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cho thấy giáo viên còn gặp khó khăn, lúng túng trong việc tiếp cận phương pháp dạy học mới và tích hợp các mạch nội dung. Đồng thời, học sinh lớp 2 tại địa phương vẫn mắc nhiều lỗi phát âm do ảnh hưởng của tiếng địa phương (lẫn lộn phụ âm l/n, ch/tr, s/x), đọc ngắc ngứ, đọc ê a, thêm bớt từ hoặc đọc vẹt mà không hiểu nội dung văn bản. Xuất phát từ thực trạng này, tác giả Trần Thị Thu Phương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tiếng Việt lớp 2 thông qua bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống".

Nghiên cứu xác định mục tiêu và 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về các biện pháp rèn kỹ năng đọc trong giờ dạy đọc lớp 2 thông qua bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống".
  2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn, khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng đọc của học sinh lớp 2 tại Trường Tiểu học Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  3. Đề xuất quy trình và một số biện pháp rèn kỹ năng đọc phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 2.
  4. Tổ chức thiết kế giáo án và triển khai dạy thực nghiệm sư phạm.
  5. Kiểm tra, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất qua phân tích định tính và định lượng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số biện pháp rèn kỹ năng đọc trong môn Tiếng Việt thông qua bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" cho học sinh lớp 2. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động dạy học đọc đối với học sinh khối lớp 2 tại Trường Tiểu học Phú Lộc, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong năm học 2020 – 2021 và 2021 – 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên khung Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tác giả vận dụng các khái niệm và nguyên lý dạy học tiếng Việt từ tài liệu "Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học II" (Lê Phương Nga, 2013), phân định rõ bản chất của việc đọc thành tiếng (chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh) và đọc thầm (chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành đơn vị ngữ nghĩa không có âm thanh). Khung lý thuyết bao quát các khái niệm ngôn ngữ học cơ bản: chính âm, trọng âm, ngữ điệu và cấu trúc văn bản. Đồng thời, nghiên cứu tuân thủ quy trình dạy học 4 bước của Chương trình GDPT 2018: Khởi động – Khám phá – Luyện tập – Vận dụng.

Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình giáo dục, sách giáo khoa Tiếng Việt 2 và các tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học tiểu học.
  • Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy khối 2 và học sinh nhằm thu thập thông tin chuyên sâu về thực trạng dạy đọc.
  • Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu khảo sát, bảng hỏi kết hợp dự giờ quan sát hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh tại Trường Tiểu học Phú Lộc.
  • Phương pháp trực quan và thuyết trình: Ứng dụng trong việc thiết kế mô hình tổ chức bài dạy thực nghiệm.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng để kiểm định chất lượng rèn kỹ năng đọc của học sinh trước và sau khi can thiệp.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm chương trình SGK Tiếng Việt 2 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống gồm 2 tập, 35 tuần học), hồ sơ báo cáo chuyên môn năm học 2020 – 2021 của Trường Tiểu học Phú Lộc, cùng số liệu khảo sát trên 210 học sinh khối lớp 2 tại đơn vị khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng đọc trong môn Tiếng Việt lớp 2

Chương 1 tập trung làm rõ vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học đọc và cấu trúc ngữ liệu của bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống". Về mặt tâm sinh lý, học sinh lớp 2 có cơ quan phát âm và hệ thần kinh đang trong giai đoạn phát triển, khả năng chú ý có chủ định còn yếu, tư duy cụ thể chiếm ưu thế, dẫn đến khó khăn trong việc nhận diện mặt chữ gắn với việc thông hiểu nghĩa văn bản.

Về mặt chương trình, tổng thời lượng môn Tiếng Việt lớp 2 là 350 tiết/năm học, trong đó phân môn Đọc chiếm khoảng 60% thời lượng. Cấu trúc bài đọc trong SGK được thiết kế theo 3 phần đồng bộ: Bài đọc, Chú thích và giải nghĩa, Câu hỏi và bài tập. Chương trình quy định cụ thể yêu cầu cần đạt: trong một năm học, học sinh phải đọc mở rộng tối thiểu 35 văn bản văn học và 18 văn bản thông tin có độ dài tương đương bài đã học, đồng thời thuộc lòng ít nhất 6 đoạn thơ/bài thơ (độ dài 39 – 45 chữ).

Khảo sát thực tiễn tại Trường Tiểu học Phú Lộc (quy mô 26 lớp, 916 học sinh năm học 2020 – 2021) cho thấy chất lượng phân loại học lực của 210 học sinh khối 2 như sau:

Xếp loại học lực Tỷ lệ (%)
Học sinh Giỏi 40%
Học sinh Khá 35%
Học sinh Trung bình 21%
Học sinh Yếu 4%

Tác giả chỉ ra các hạn chế thực tế: giáo viên còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, chưa linh hoạt liên hệ thực tiễn và còn lúng túng với quy trình dạy học mới; học sinh lớp 2 còn đọc đánh vần, phát âm sai lệch, ngắt nghỉ không đúng chỗ, thiếu thói quen tự đọc và chuẩn bị bài tại nhà.

Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc trong môn Tiếng Việt lớp 2 thông qua bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống

Chương 2 phân loại các lỗi đọc điển hình của học sinh lớp 2 và xây dựng hệ thống biện pháp can thiệp sư phạm.

Các nhóm lỗi đọc phổ biến được nhận diện gồm:

  • Lỗi phát âm: Nhầm lẫn phụ âm đầu (l/n, ch/tr, d/r/gi, ví dụ đọc "long lanh" thành "nong nanh"); sai âm đệm/âm chính/âm cuối trong vần (ví dụ đọc "khuỷu tay" thành "khyủ tay", "xe buýt" thành "xe být"); lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã (ví dụ "nghỉ ngơi" thành "nghị ngơi").
  • Lỗi kỹ thuật đọc: Đọc ê a, ngắc ngứ do thói quen đánh vần từng chữ; tự ý thêm từ hoặc bớt từ (ví dụ trong bài "Làm việc thật là vui", học sinh tự thêm từ "o" và "hiệu" vào câu văn); ngắt nghỉ hơi sai quy tắc (ví dụ bài "Chơi chong chóng" ngắt sai cấu trúc ngữ nghĩa); đọc vẹt không hiểu nội dung; đọc đúng từ ngữ nhưng giọng đọc đều đều, chưa thể hiện được ngữ điệu và sắc thái biểu cảm.

Dựa trên 3 nguyên tắc dạy học cốt lõi (nguyên tắc phát triển lời nói/giao tiếp, nguyên tắc phát triển tư duy, nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh), tác giả đề xuất các biện pháp can thiệp theo tiến trình giờ học:

Tiến trình dạy học Nhóm biện pháp đề xuất Minh họa ngữ liệu trong SGK Tiếng Việt 2
Giai đoạn trước khi đọc (Khởi động) - Sử dụng video, tranh ảnh minh họa tạo tâm thế
- Sử dụng âm nhạc kích thích thính giác
- Đặt học sinh vào tình huống giao tiếp thực tế
- Sử dụng câu đố, trò chơi trí tuệ
- Kể chuyện ngắn dẫn dắt vào bài
- Bài "Gọi bạn" (tranh Bê vàng và Dê trắng)
- Bài "Yêu lắm trường ơi!" (hát bài "Em yêu trường em" - Hoàng Vân)
- Bài "Những cách chào độc đáo" (tình huống chào hỏi)
- Bài "Hạt thóc", "Mai An Tiêm" (giải câu đố)
- Bài "Hồ Gươm" (kể tích Lê Lợi trả gươm)
Giai đoạn trong khi đọc (Khám phá & Luyện tập) - Đọc mẫu có định hướng của giáo viên (toàn bài, câu, đoạn, từ khó)
- Hướng dẫn tư thế đọc chuẩn (khoảng cách mắt 30–35cm, thở sâu)
- Tổ chức luyện đọc nhóm đôi kết hợp thi đọc tiếp sức
- Tổ chức luyện đọc nhóm 4 và nhóm ngẫu nhiên theo sở thích
- Áp dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong giải nghĩa và xác định cách đọc
- Tổ chức đọc phân vai theo tuyến nhân vật
- Hướng dẫn cƣờng độ đọc bài "Cầu thủ dự bị"
- Thi đọc nhóm bài "Cái trống trường em"
- Chia nhóm ngẫu nhiên bài "Thả diều"
- Kỹ thuật khăn trải bàn bài "Tớ nhớ cậu" (chia 5 phần trên bảng phụ)
- Phân vai bài "Chuyện bốn mùa" (giọng Đông buồn, Hạ hóm hỉnh, Thu thủ thỉ, Bà Đất ấm áp)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức dạy học thực nghiệm tại khối lớp 2 Trường Tiểu học Phú Lộc nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp đã xây dựng. Tác giả tiến hành thiết kế giáo án thực nghiệm áp dụng đầy đủ quy trình 4 bước cùng các kỹ thuật chia nhóm, đọc phân vai, đọc mẫu và sử dụng đồ dùng trực quan. Kết quả kiểm tra được đánh giá đa chiều qua hai giai đoạn: trước thực nghiệm và sau thực nghiệm, tập trung vào các tiêu chí: độ chính xác của phát âm, tốc độ đọc đạt chuẩn (60 – 70 tiếng/phút), kỹ năng ngắt nghỉ hơi đúng dấu câu/ngữ pháp và mức độ đọc hiểu nội dung bài học.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã tổng kết các kết quả định tính và định lượng cụ thể:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở khoa học về rèn kỹ năng đọc cho học sinh tiểu học, cụ thể hóa các yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018 đối với phân môn Đọc lớp 2 gắn với cấu trúc ngữ liệu bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống".
  • Về mặt thực tiễn: Khảo sát và phân loại chi tiết các dạng lỗi phát âm, lỗi kỹ thuật đọc của học sinh lớp 2 tại địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; làm rõ nguyên nhân bắt nguồn từ phương pháp dạy học của giáo viên và đặc điểm tâm sinh lý học sinh.
  • Về giải pháp sư phạm: Xây dựng quy trình dạy đọc 4 bước với các biện pháp cụ thể, bao gồm việc đa dạng hóa hình thức khởi động (tranh ảnh, âm nhạc, câu đố, tình huống), chuẩn hóa phương pháp đọc mẫu, và vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực (khăn trải bàn, luyện đọc nhóm đôi, đọc phân vai).
  • Về hiệu quả thực nghiệm: Dữ liệu kiểm tra sau thực nghiệm tại Trường Tiểu học Phú Lộc cho thấy học sinh ở các lớp thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt: giảm thiểu lỗi đọc sai phụ âm đầu và ngắt nghỉ sai, tốc độ đọc đạt chuẩn từ 60 đến 70 tiếng/phút tăng lên, học sinh trả lời chính xác các câu hỏi đọc hiểu và thể hiện được sắc thái biểu cảm phù hợp với từng thể loại văn bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số giới hạn thực tế:

  • Phạm vi khảo sát và thực nghiệm: Đề tài mới được triển khai trong phạm vi một trường tiểu học (Trường Tiểu học Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), chưa mở rộng khảo sát so sánh trên nhiều trường thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ tập trung vào học sinh lớp 2 và sử dụng ngữ liệu của bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống".
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu các biện pháp rèn kỹ năng đọc cho các khối lớp tiếp theo (lớp 3, lớp 4, lớp 5) và thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu ngữ liệu rèn đọc giữa các bộ sách giáo khoa khác nhau trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Giáo viên tiểu học: Đặc biệt là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 2, có thể tham khảo các giáo án minh họa, cách thức thiết kế hoạt động khởi động, phương pháp tổ chức luyện đọc nhóm và kỹ thuật sửa lỗi phát âm cho học sinh.
  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Là nguồn tư liệu thực tế phục vụ học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, rèn luyện kỹ năng thiết kế kế hoạch bài dạy theo Chương trình GDPT 2018 và kỹ năng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tiểu học: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về tình hình triển khai bộ sách mới tại cơ sở giáo dục, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn phù hợp cho giáo viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng khung pháp lý và chương trình chuẩn nào để làm căn cứ nghiên cứu?
Nghiên cứu căn cứ vào Chương trình môn Tiếng Việt ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết hợp với cấu trúc ngữ liệu của bộ SGK Tiếng Việt 2 "Kết nối tri thức với cuộc sống".

2. Học sinh lớp 2 tại Trường Tiểu học Phú Lộc thường mắc những lỗi đọc cụ thể nào?
Học sinh thường mắc các lỗi: phát âm nhầm phụ âm đầu (l/n, ch/tr, d/r/gi), phát âm sai vần (khuỷu tay thành khyủ tay, xe buýt thành xe být), lẫn lộn thanh hỏi/ngã (nghỉ ngơi thành nghị ngơi), đọc thêm/bớt từ, ngắt nghỉ hơi sai quy tắc ngữ pháp và đọc vẹt không hiểu văn bản.

3. Tỷ lệ thời lượng dành cho phân môn Đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 là bao nhiêu?
Trong tổng số 350 tiết của môn Tiếng Việt lớp 2 (thực hiện trong 35 tuần, gồm 33 tuần học và 2 tuần ôn tập/đánh giá), phân môn Đọc chiếm khoảng 60% tổng thời lượng chương trình.

4. Kỹ thuật "khăn trải bàn" được tác giả ứng dụng như thế nào trong giờ luyện đọc?
Kỹ thuật này được minh họa trong bài "Tớ nhớ cậu": giáo viên chia lớp thành các nhóm 4, mỗi nhóm dùng bảng phụ chia làm 5 phần (4 ô xung quanh cho từng cá nhân ghi ý kiến về cách đọc từng đoạn, ô trung tâm ghi ý kiến thống nhất của cả nhóm), sau đó nhóm trưởng trình bày để giáo viên chốt cách đọc chuẩn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Thu Phương đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 thông qua bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống". Bằng việc phân tích sâu sắc cơ sở lý luận kết hợp khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Phú Lộc (Phú Thọ), đề tài đã đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ từ khâu khởi động, đọc mẫu đến luyện đọc nhóm và sửa lỗi kỹ thuật. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi của các giải pháp, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.