Chương I. Cơ sở lí luận gắn với rà soát, kiểm tra Các thuật ngữ rà soát, kiểm tra mà chúng tôi dùng trong luận văn này có nguồn gốc từ hai thuật ngữ tiếng Pháp, mà thoạt tiên có vẻ đồng nghĩa là: Vérification (kiểm tra) và Contrôle (rà soát). Tuy nhiên, những phân tích sau đây sẽ cho phép phân biệt hai khái niệm này. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ - Theo từ điển Tiếng Việt + Kiểm tra (động từ): xem xét kỹ lưỡng để đánh giá, nhận xét.
+ Rà soát (động từ): xem kĩ lại, kiểm tra từng chi tiết sau khi đã hoàn thành. Luan van 10 - Theo từ điển Pháp – Việt + Vérification: sự kiểm tra, thẩm tra, xác minh, xác nhận. + Contrôle: Sự kiểm tra, kiểm soát, giám sát; sự làm chủ được. - Trong ngôn ngữ tiếng Pháp: Guérin.L(2015) đã chỉ ra sự tiến triển như sau của các thuật ngữ này trong hệ thống ngôn ngữ tiếng pháp: + Về mặt lịch sử, hai thuật ngữ này có cùng nghĩa.
Nhưng từ năm 1845, thuật ngữ Contrôle có sự tiến triển về nghĩa. Nó thiên hơn về sự giám sát (surveillance), nhất là trong lĩnh vực tài chính. Vào thế kỉ 20, thiên hướng này được mở rộng hơn về những khái niệm trừu tượng như: Mất kiểm soát (perdre le contrôle de soi), Kiểm soát sinh đẻ (contrôle de la natalité). + Contrôle có tầm tổng quát hơn Vérification.
Nó bao hàm Vérification. Trong phạm vi dạy học toán 1. Khái niệm kiểm tra (vérification) Theo Coppé.S (1997), trích theo Chalancon.F (2002): “Trong một tình huống giải quyết vấn đề, đối với một câu hỏi, một học sinh đã xác định được một phần kết quả hoặc kết quả cuối cùng và HS đặt ra vấn đề về tính hợp thức của kết quả này. Chúng tôi gọi kiểm tra (vérification) là tất cả những luận chứng (lí lẽ) hoặc những hành động mà HS sử dụng để làm giảm sự không chắc chắn (sự bấp bênh) của kết quả, nếu HS có nhu cầu làm ở thời điểm đó, trong tình huống này.
Hệ quả của việc kiểm tra này là: làm tăng tính chắc chắn và có thể khẳng định chắc chắn về kết quả, hoặc tạo ra một sự nghi ngờ lớn hơn, thậm chí dẫn tới một bước điều chỉnh.” Như vậy, trong tình huống giải quyết một vấn đề, kiểm tra xuất hiện khi mà chủ thể (người giải quyết vấn đề) đã đạt được một kết quả nào đó (không nhất thiết là kết quả cuối cùng) và có nhu cầu xem xét lại tính chính xác của kết quả này. Hệ quả của hành động kiểm tra là làm tăng hoặc giảm niềm tin của chủ thể vào kết quả này, chứ không phải luôn luôn cho phép khẳng định hay bác bỏ kết quả, nghĩa là khi kiểm tra thành công nó không đảm bảo tính chính xác của kết quả đó.S (1993 ), trích theo Chalancon.F (2002) phân biệt hai loại kiểm tra: Luan van 11 - Kiểm tra kiểu nội tại (vérification de type interne): Việc kiểm tra dựa trên những kiến thức, kĩ năng toán học. Chẳng hạn, thay nghiệm tìm được vào phương trình đã cho; kiểm tra xem tích hai nghiệm của phương trình bậc hai vừa giải có thỏa hệ thức Vi-ét không? Đôi khi, vì lí do thời gian, chủ thể chỉ kiểm tra một trong hai hệ thức (tổng hoặc tích hai nghiệm) để tăng thêm niềm tin vào kết quả giải, chứ không kiểm tra lại toàn bộ các bước biến đổi. - Kiểm tra kiểu ngoại vi (vérification de type externe): kiểm tra không nhờ đến kiến thức toán học, mà dựa chủ yếu vào kinh nghiệm của bản thân.
Chẳng hạn, nghiệm của phương trình phải là những số không quá phức tạp. Từ mô tả này của Coppé, chúng tôi cho rằng, kiểm tra dựa trên những qui tắc ngầm ẩn của hợp đồng dạy học đối với một đối tượng tri thức thuộc vào kiểu kiểm tra ngoại vi nêu trên. Đồng thời Coppé.S (1993) cũng đã đề xuất một số kĩ thuật kiểm tra như sau: + Kiểm tra các bước giải. + Kiểm tra theo điều kiện bài toán.
+ Kiểm tra bằng cách thử nghiệm trong một số trường hợp. + Kiểm tra bằng cách đối chiếu với một vấn đề khác. + Kiểm tra dựa vào một số bí quyết không ảnh hưởng nhiều bởi toán học hay nói cách khác phụ thuộc vào các quy tắc hợp đồng. + Kiểm tra dựa vào một số kiến thức thực tế.
+ Kiểm tra dựa vào bộ nhớ các kiến thức, các bài tập đã được GV dạy. + Kiểm tra bằng cách đối chiếu tương tự với một sự chắc chắn. Và tác giả cũng cho rằng tùy vào từng tình huống toán học cụ thể sẽ có kĩ thuật kiểm tra cụ thể tương ứng. Coppé trình bày ví dụ với tình huống sau Cho biểu thức đại số sau A 2 x 5 2 x 5 x 4 2 x 5 2 Hervé đã đưa ra đáp án sau A 2 x 52 x 5 x 4 A 2 x 53x 1 Luan van 12 Các em có nhận xét gì về kết quả này? Các em đã kiểm tra đáp án này bằng cách nào? Các kĩ thuật kiểm tra ứng với tình huống này có thể là kiểm tra từng bước giải, kiểm tra kết quả của hệ số cao nhất và hệ số tự do của biểu thức, kiểm tra bằng cách thế cùng một giá trị x bất kì vào biểu thức ban đầu và biểu thức kết quả hoặc sử dụng máy tính vẽ đồ thị để so sánh 2 đường cong này, … 1.
Khái niệm rà soát, các thành tố và khung tham chiếu của nó Trong các công trình mà chúng tôi tham khảo, không có một định nghĩa “hoàn chỉnh” nào về khái niệm rà soát. Nó chỉ được mô tả qua các đặc trưng chủ yếu sau đây: + Rà soát có tầm rộng hơn kiểm tra, nó bao hàm kiểm tra. Rà soát hướng tới một tầm bổ sung so với kiểm tra: tầm hợp thức hóa câu trả lời. Kiểm tra dẫn tới “sự có thể đúng”, trong khi rà soát tính đến cái đúng.
+ Kiểm tra thiên về tính “có thể” (có thể đúng) hơn là về chân lí (tính đúng đắn) (Chalancon.F (2000) làm rõ hơn các đặc trưng sau đây của khái niệm rà soát trong mối quan hệ với khái niệm kiểm tra: + “Trước một sản phẩm toán học, HS phải có khả năng kiểm tra (vérification) kết quả của họ, khả năng đánh giá tính liên kết, tính hợp thức, tính chặt chẽ của tiến trình, và khả năng xem xét lại cách giải quyết của họ bằng những thử nghiệm đánh giá, phán xét. Những hành động này thể hiện sự rà soát của HS về hoạt động toán học và phản ánh sự phát triển tính hợp lý (rationalité) toán học của HS” (tr. + “Rà soát không chỉ xuất hiện từ đầu như sự cảm nhận về kết quả hoặc ở bước giải quyết cuối cùng như là kiểm tra giải pháp, nó xuất hiện trong tất cả các bước của quá trình giải quyết: trong thiết lập hình ảnh của tình huống, ra các quyết định hành động, đánh giá tính thích ứng của mục tiêu nhiệm vụ. “Kiểm tra thiên về giải thích kết quả đạt được.
Nó xuất hiện như sự hợp thức hóa kết quả, nhắm tới có được sự chắc chắn hoặc một nghi ngờ và kéo theo sự điều chỉnh lại”. Luan van 13 + “Rà soát là sự giật lùi, quay ngược lại tình huống để chọn chiến lược thích đáng nhất, hiệu quả nhất, tiết kiệm thời gian nhất”. “Khi giải quyết các vấn đề, hoạt động rà soát cũng xuất hiện ở những thời điểm HS gặp ngõ cụt, gặp một chướng ngại. Chính ở những thời điểm do dự này mà HS phải huy động kiến thức và thực hiện việc rà soát để vượt qua chướng ngại” (tr.
Đặc biệt, liên quan tới đối tượng rà soát, Saboya.M (1993), Cipra (1985), Hadamard (1975), Coppé (1993), Richard (1998), Kagiotakis (1996), Schoenfeld (1985),… Từ kết quả nghiên cứu này, Saboya.F (2006) đã đề xuất một khung tham chiếu sau đây, làm cơ sở cho việc thiết lập các tình huống dạy học với mục tiêu phát triển năng lực rà soát của HS. Khung tham chiếu này bao hàm 6 thành tố của khái niệm rà soát, trong đó kiểm tra chỉ là một thành tố của nó. Bảng 6 thành tố của đối tượng rà soát Cảm nhận (anticipation): Kiểm tra, hợp thức hóa (vérification, Suy ngẫm Thoạt tiên có thể đặt ra validation): (engagement một điều kiện hợp thức - Tiến hành kiểm tra lần lượt, thường réfléchi): của kết quả trước khi đạt xuyên trong suốt quá trình thực hiện Làm xuất hiện được kết quả. Kết quả đạt được có thể dẫn “nghĩa”, nội hàm tới sự quay lại nhiệm vụ, thay đổi của khái niệm đang phương pháp hoặc xem xét lại các tính xử lí.
Lấy một toán đã làm. khoảng dừng để - Triển khai quy trình hợp thức hóa một suy nghĩ, nhìn lại suy luận, xác nhận tính đúng đắn của nhiệm vụ. một phát biểu, một tiến trình, của một phép tính,… Phân định, lựa chọn Ý tưởng siêu kiến thức (Idée de la Nhận thức về sai sáng suốt (discernement, métaconnaissance): sót, cảm nhận về choix éclairé): Huy động những kiến thức thuộc loại các mâu thuẫn. Luan van 14 - Dự đoán nhiều giải pháp siêu kiến thức.
Chúng gắn với việc ra Khả năng vượt có thể thực hiện. Thực quyết định phù hợp với việc sử dụng qua chướng ngại: hiện một lựa chọn sáng kiến thức trong một nhiệm vụ đã cho (và Nhận ra những suốt giữa các chiến lược gắn với những nghĩa và hình thức biểu mâu thuẫn, những có thể bằng cách phân đạt khác nhau của những kiến thức này). kết quả bất thường định được cái nào hiệu không có ý nghĩa; quả nhất, cái nào cho kết có thể khắc phục quả nhanh nhất, không có những mâu thuẫn quá nhiều nguy cơ sai sót. Chúng tôi giải thích thêm một số thành tố trong bảng: - “Siêu kiến thức (métaconnaissance) là những kiến thức gắn liền với việc ra quyết định, những kiến thức tương ứng với định nghĩa khái niệm và các tính chất của nó.
Chẳng hạn, trong phạm vi số phức, biết số phức có ba 3 cách viết khác nhau: đại số, lượng giác và cách viết đề các, là kiến thức thuộc loại siêu kiến thức” (Saboya. - Cảm nhận: xét ví dụ sau đây của Guérin. Bài toán dành cho HS lớp 5: Dựng hình vuông OLIP biết OI = 7,4 cm. Sau đây là bài làm của HS có tên Mathilde: Trước hết em vẽ bằng tay (hình bên trái).
Sau đó, dựng bằng thước, compas, eke hình bên phải. Bài làm của HS lớp 5 (L.Guérin, 2015) Luan van 15 Theo phân tích của Guérin.L (2015), trước khi thực hiện dựng hình thứ 2 (hình mong đợi), HS này vẽ bằng tay hình thứ nhất.