Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC 1. Khái niệm hình phạt và quyết định hình phạt 1. Khái niệm hình phạt Hình phạt là một trong những khái niệm cơ bản của luật hình sự. Dưới góc độ lập pháp, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được định nghĩa trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Điều 26 như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định”. Hiện nay, khái niệm hình phạt đã được BLHS năm 2015 hoàn thiện hơn khi bổ sung chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại. Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.” Xuất phát từ khái niệm trên, có thể thấy hình phạt có những dấu hiệu sau: - Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất Trong các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án.
Đồng thời, hình phạt còn để lại cho người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án một hậu quả pháp lý đó là án tích trong một thời gian nhất định [8, tr. - Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt ở cả phần chung và các phần các tội phạm. Phần chung của BLHS quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc về hình phạt, trong khi đó, phần các tội phạm quy định các loại hình phạt và mức 6 hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể. Hệ thống hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, được quy định khác nhau đối với người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội.
Đối với người phạm tội, các hình phạt chính như: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền và trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính (Điều 32 BLHS năm 2015). Đối với pháp nhân thương mại phạm tội, hình phạt chính gồm: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính (Điều 33 BLHS năm 2015). Do vậy, trong mọi trường hợp, tòa án không được áp dụng một loại hình phạt nào đó không quy định trong BLHS, cũng như không được áp dụng hình phạt đối với những hành vi không được BLHS quy định là tội phạm.
- Hình phạt do Tòa án quyết định áp dụng Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt. Ngoài Tòa án, không một cơ quan nào khác có quyền quyết định hình phạt. Toà án thông qua quá trình xét xử ra các bản án để xác định hình phạt cụ thể đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. - Hình phạt chỉ áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Về nguyên tắc, hình phạt chỉ áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.
BLHS không cho phép áp dụng hình phạt đối với người thân của người phạm tội hoặc chấp hành hình phạt thay cho người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội cho dù sự chấp hành thay này là hoàn toàn tự nguyện [8, tr. 7 Như vậy, hình phạt là một hình thức phổ biến nhất của trách nhiệm hình sự, là phương tiện để đạt được mục đích của trách nhiệm hình sự [13, tr.7] và là cách thức thể hiện sự xử sự của Nhà nước đối với các hành vi phạm tội. Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 31 BLHS năm 2015). Khái niệm quyết định hình phạt Bên cạnh các khái niệm cơ bản của luật hình sự như tội phạm, hình phạt thì “quyết định hình phạt” cũng được xem là một trong những khái niệm quan trọng, thể hiện tập trung nhất chính sách hình sự của Nhà nước.
Quyết định hình phạt có căn cứ, đúng pháp luật, công bằng không chỉ là tiền đề, điều kiện để đạt được mục đích của hình phạt mà còn góp phần tích cực vào công cuộc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Mặc dù là một khái niệm quan trọng nhưng cho tới nay, khái niệm “quyết định hình phạt” mới chỉ được nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật hình sự mà chưa được định nghĩa chính thống trong các văn bản pháp luật hình sự. Tác giả Đinh Văn Quế cho rằng: “Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu phải tuân thủ theo những quy định của Bộ luật hình sự” [21, tr.
Tương tự, các tác giả của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra định nghĩa về quyết định hình phạt như sau: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau) trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự” [8, tr. Do đó, quyết định hình phạt này chỉ đặt ra đối với các trường hợp cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với chủ thể chịu trách nhiệm 8 hình sự, không áp dụng đối với các trường hợp chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt. Bên cạnh việc định nghĩa nội dung quyết định hình phạt dưới góc độ luật hình sự, khái niệm này còn được giải thích dưới khía cạnh luật tố tụng hình sự. Tác giả Chu Thị Trang Vân cho rằng: “Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong các bản án phạm tội” [39, tr.
Có nghĩa là, quyết định hình phạt trong phạm vi luật tố tụng hình sự được xem là hoạt động của Tòa án trong giai đoạn xét xử. Như vậy, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau nhưng khái niệm quyết định hình phạt vẫn bao hàm nội dung cơ bản là việc lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. Nếu khung hình phạt quy định nhiều loại hình phạt khác nhau thì quyết định hình phạt là sự lựa chọn một hình phạt cụ thể trong phạm vi pháp luật cho phép để áp dụng đối với người phạm tội. Chẳng hạn, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt chính là tù chung thân hoặc tử hình thì quyết định hình phạt lúc này thực chất là việc lựa chọn một loại hình phạt cụ thể để áp dụng chứ không phải chọn mức hình phạt cụ thể trong khung hình phạt.
Ngược lại, nếu chế tài được quy định chỉ có một loại hình phạt và có các mức khác nhau thì quyết định hình phạt trong trường hợp này là xác định mức hình phạt trong phạm vi khung hình phạt được quy định. Ví dụ, khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015 quy định “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Trong trường hợp một người phạm tội hiếp dâm theo quy định này thì quyết định hình phạt lúc này thực chất là lựa chọn mức hình phạt cụ thể trong khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm để áp dụng đối với người đó sao cho 9 phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Quyết định hình phạt bao gồm cả việc quyết định hình phạt chính và quyết định hình phạt bổ sung, tuy nhiên, nội dung quan trọng trong quyết định hình phạt của Tòa án vẫn là quyết định hình phạt chính.
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu nội dung, bản chất quyết định hình phạt và các quan điểm của các nhà khoa học khác nhau, tác giả luận văn đưa ra khái niệm về quyết định hình phạt như sau: “Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung) trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự”. Khái niệm quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục Từ những phân tích về khái niệm quyết định hình phạt, có thể khẳng định rằng giữa hình phạt và quyết định hình phạt luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quyết định hình phạt là nhân tố quan trọng đóng vai trò cầu nối giữa tội phạm và hình phạt. Việc định tội danh đúng sẽ tạo tiền đề cho quyết định hình phạt đúng và quyết định hình phạt đúng sẽ tạo cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt.
Hiện nay, trong BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra định nghĩa về các tội xâm phạm tình dục. Tuy nhiên, theo Từ điển tiếng Việt, xâm phạm là “động chạm đến quyền lợi của người khác” [40, tr.1144], còn tình dục là “nhu cầu phát triển tự nhiên của con người có tính giao” [40, tr.