Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Bùi Thị Hải tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Ngọc Vượng. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, mã số 62 38 01 02.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng quyền được thông tin có nguồn gốc pháp lý từ Đạo luật về tự do báo chí năm 1776 của Thụy Điển – văn bản đầu tiên thừa nhận quyền tiếp cận tài liệu công. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quyền này được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), cùng Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội năm 1966. Trên phạm vi toàn cầu, nếu năm 1990 chỉ có 13 quốc gia ban hành luật riêng về lĩnh vực này thì đến thời điểm nghiên cứu đã có 103 quốc gia ban hành đạo luật về tự do thông tin hoặc tiếp cận thông tin. Tại Việt Nam, tinh thần bảo đảm quyền thông tin được thể hiện từ Cương lĩnh năm 1991, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2018). Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc công khai, minh bạch thông tin còn mang tính hình thức; quy định pháp luật còn tản mạn, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm giải trình; người dân chủ yếu tiếp cận thông tin thụ động qua báo chí hoặc mạng internet; các khu vực vùng sâu, vùng xa gặp rào cản về hạ tầng và ngôn ngữ. Sự thiếu minh bạch trong quản lý hành chính (điển hình ở lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, dự án đầu tư) làm gia tăng nguy cơ tiêu cực, khiếu kiện kéo dài. Các công trình trong nước trước đó chủ yếu nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin nói chung hoặc gắn với phòng chống tham nhũng, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước; chỉ ra bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật thực định; đánh giá thực trạng thực hiện và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phù hợp với Hiến pháp năm 2013, thông lệ quốc tế và hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:
- Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận, khái niệm, đặc điểm, vai trò và kinh nghiệm quốc tế về quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước để rút ra các giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Hai là, đánh giá sự hình thành, phát triển và thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nhận thức của công dân và cán bộ công chức, hoạt động công khai minh bạch, trình tự thủ tục và các kênh phản hồi.
- Ba là, xác định sự cần thiết, các quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm, thúc đẩy việc thực thi quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay, bao gồm các quan niệm, tư tưởng luật học; các quy định pháp luật trong nước và điều ước quốc tế; thực tiễn thực hiện quyền trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Về nội dung: Tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; phân tích các văn kiện quốc tế, luật tiếp cận thông tin của các quốc gia, quy định pháp luật Việt Nam và liên hệ thực tiễn quản lý hành chính trong một số lĩnh vực trọng điểm như đất đai, giải phóng mặt bằng.
- Về không gian: Giới hạn trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với pháp luật quốc tế và một số quốc gia.
- Về thời gian: Nghiên cứu tiến trình từ năm 1945 đến nay, tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ sau Hiến pháp năm 1992 và bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 2013 đến thời điểm năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài:
Nhóm nghiên cứu quốc tế về quyền tiếp cận thông tin và quản lý nhà nước:
- Nghiên cứu "Luật Liên minh châu Âu và tự do thông tin" của Matrix Chambers tổng kết lịch sử, án lệ của Tòa án các nước thành viên (Pháp, Hungary) và Tòa án Liên minh châu Âu, phân định giữa tự do thông tin và bảo vệ quyền riêng tư.
- Công trình "Thụy Điển: Tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu" của David Sandukhchyan (OSCE/ODIHR) phân tích nguyên tắc tiếp cận tài liệu công trong Hiến pháp Thụy Điển, các trường hợp ngoại lệ và thủ tục thực thi.
- Khảo sát của Toby Mendel với tác phẩm "Tự do thông tin - một khảo sát pháp lý so sánh" tiếp cận quyền tự do thông tin dưới góc độ luật so sánh.
- Các khảo sát khu vực Nam Á gồm: công trình của Mukhtar Ahmad Ali về sáng kiến xã hội dân sự tại Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh; báo cáo "Những xu hướng toàn cầu về quyền thông tin - một khảo sát ở Nam Á" của Ủy ban Nhân quyền Pakistan (tháng 7/2001); phân tích của nhóm tác giả Maja Daruwala, Venkatesh Nayak và James Ferguson (2008) về Luật Tự do thông tin Pakistan năm 2008.
- Nghiên cứu tại châu Phi của Carlyn Hambuba (UNESCO phối hợp FEMNET) về tự do thông tin và quyền phụ nữ; công trình của Mukelani Dimba và Richard Calland về quá trình xây dựng, thực thi Luật Tự do thông tin tại Nam Phi dưới sự giám sát của Ủy ban Nhân quyền Nam Phi.
- Khảo sát của Kati Suominen (2003) trên tạp chí Luật truyền thông so sánh về thực trạng pháp luật tại Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê (tiêu biểu ở Chile, Jamaica, Mexico, Panama, Peru, Cuba, Haiti).
- Nghiên cứu của Thomas S. Blanton về di sản của Anders Chydenius và 5 nguyên tắc quốc tế về tự do thông tin.
- Các công trình của David Banisar (Privacy International, các năm 2002 và 2006) khảo sát luật tiếp cận hồ sơ chính quyền tại 45 quốc gia.
- Bài viết của James Popple (2011) về vai trò của Văn phòng Ủy viên Thông tin Úc (OAIC) và 8 nguyên tắc quản lý thông tin trong cơ quan hành chính.
- Công trình của Lawrence Repeta và David M. Schultz (2002) so sánh Luật Công bố thông tin của Nhật Bản với Luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ.
- Nghiên cứu "Sự minh bạch trong chính quyền" của Joseph Stiglitz (2002) phân tích hiện tượng thông tin bất cân xứng và sự lạm quyền của công chức.
Nhóm nghiên cứu trong nước:
- Nhóm công trình lý luận quyền con người: Sách chuyên khảo "Quyền con người – tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học" (3 tập, 2010), "Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người" (2011), Giáo trình sau đại học "Quyền con người" (2011) do GS. Võ Khánh Vinh chủ biên; Giáo trình "Lý luận và pháp luật về quyền con người" của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2009).
- Nhóm công trình về quyền tiếp cận thông tin: Bài viết của Chu Thị Thái Hà (2009) về nội hàm quyền tiếp cận thông tin; bài viết của Thái Vĩnh Thắng (2009) khẳng định quyền tiếp cận thông tin là điều kiện thực hiện các quyền con người khác; nghiên cứu của Tường Duy Kiên (2008) về quy chuẩn quốc tế; sách chuyên khảo của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2011) với các bài viết của Vũ Công Giao, Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái; sách tham khảo của Viện Nghiên cứu Quyền con người (2007); sách chuyên khảo của Thái Thị Tuyết Dung (2012) phân tích mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư; các bài viết của Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Phạm Thị Liên Phương, Dương Thanh Bình (2009), Vĩnh Nguyễn.
- Nhóm nghiên cứu gắn với quản lý hành chính và phòng chống tham nhũng: Luận án tiến sĩ của Trần Văn Long (2015) về quyền được thông tin trong phòng, chống tham nhũng; các bài viết của Đỗ Thị Thơm (2009), Nguyễn Tuấn Khanh (2008); đề tài cấp bộ của Thái Vĩnh Thắng và đề tài cấp nhà nước của Nguyễn Minh Thuyết.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Mặc dù các tài liệu trên đã đặt nền móng lý thuyết, luận án xác định 4 vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo:
- Khái niệm quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước chưa được định nghĩa hoàn chỉnh trong khoa học pháp lý Việt Nam, nhất là qua quá trình tiến triển từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013.
- Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin chưa được phân định rõ ràng giữa công dân, người nước ngoài, cán bộ công chức và tổ chức.
- Mối quan hệ tác động qua lại giữa chính sách, pháp luật hành chính với việc thực thi quyền tiếp cận thông tin của công dân chưa được mổ xẻ sâu sắc.
- Thiếu các nghiên cứu thực chứng làm rõ vai trò của thông tin như là căn cứ ra quyết định hành chính gắn với thực tiễn cụ thể trong quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, cũng như cơ chế ràng buộc trách nhiệm công khai, minh bạch của cơ quan hành chính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Cơ sở lý luận nền tảng là phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
- Khung lý thuyết hành chính và luật học: Luận án dựa trên lý thuyết về tính đại diện và ủy quyền của quyền lực nhà nước (nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà nước, do đó có quyền giám sát việc thực thi quyền lực thông qua thông tin); lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại nhấn mạnh tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; quan điểm của Amartya Sen (giải Nobel Kinh tế năm 1998) về vai trò của tự do thông tin đối với việc phòng ngừa nạn đói và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Khung phân tích khái niệm: Luận án thiết lập sự phân biệt học thuật giữa ba thuật ngữ: "quyền được thông tin" (thiên về tính thụ động của chủ thể nhận tin nhưng phạm vi áp dụng rộng trên toàn bộ quản lý nhà nước), "quyền tự do thông tin" (nội hàm rộng bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, lưu giữ, phổ biến thông tin cho bất kỳ ai mà không bị rào cản quyền lực), và "quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước" (tập trung vào quyền của người dân trong việc chủ động tìm kiếm, tiếp nhận các thông tin do cơ quan hành chính nhà nước nắm giữ).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu định tính và luật học thực định, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp hệ thống: Vận dụng xuyên suốt nhằm cấu trúc các nội dung từ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng đến đề xuất giải pháp thành một chỉnh thể logic.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại tất cả các chương nhằm phân tích các quan điểm lý thuyết, quy chuẩn văn bản quy phạm pháp luật và tổng hợp thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực hành chính.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (ICCPR) và đạo luật tiếp cận thông tin của các nước (Thụy Điển, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Nam Phi, các nước Nam Á) về phạm vi tiếp cận, danh mục miễn trừ, thủ tục và chế tài.
- Phương pháp thống kê: Rà soát, đối chiếu quá trình lập hiến và lập pháp từ năm 1945, đặc biệt từ năm 1992 đến năm 2016; tổng hợp các số liệu khảo sát về hình thức cung cấp thông tin của cơ quan hành chính và mức độ nhận thức của người dân.
Nguồn dữ liệu và tư liệu:
- Nguồn văn bản pháp quy: Các bản Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013); Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Báo chí; Luật Đất đai; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước.
- Nguồn văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước ICCPR năm 1966, Công ước ICESCR năm 1966.
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu điều tra: Các báo cáo tổng kết thực tiễn quản lý hành chính, số liệu khảo sát của các cơ quan nghiên cứu về hình thức cung cấp thông tin và nhận thức của công dân đối với thủ tục yêu cầu thông tin.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế theo từng tuyến chủ đề: nhóm nghiên cứu về tự do thông tin và chuẩn mực quốc tế; nhóm nghiên cứu về tiếp cận thông tin trong quản lý công quyền; nhóm nghiên cứu về quyền con người và mối liên hệ giữa tiếp cận thông tin với quyền riêng tư, phòng chống tham nhũng.
Trên cơ sở điểm luận, tác giả khẳng định việc nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin đã đạt được sự thống nhất chung về vai trò nền tảng của quyền này đối với việc bảo đảm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu dừng lại ở mức độ khái quát chung hoặc nghiên cứu lồng ghép trong các đề tài về dân chủ hóa hay tư pháp, chưa làm rõ bản chất của quyền tiếp cận thông tin trong cơ chế điều hành, chấp hành của nền hành chính. Chương 1 xác lập tính độc lập khoa học của đề tài và định vị 4 vấn đề trọng tâm cần luận án tiếp tục giải quyết: xây dựng định nghĩa khoa học; phân định các nhóm chủ thể; xác định tác động qua lại giữa pháp luật hành chính và quyền tiếp cận thông tin; phân tích thông tin như một căn cứ ban hành quyết định hành chính gắn với thực tiễn thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm và vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước:
- Khái niệm: Tác giả đưa ra định nghĩa: Quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước là quyền của người dân được tìm kiếm, tiếp nhận những thông tin về thể chế, chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính; chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước ở các cấp; về đội ngũ cán bộ, công chức; nguồn lực tài chính, tài sản công và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác nhằm bảo đảm thực thi công vụ hiệu quả theo quy định của pháp luật.
- Bảy đặc điểm cơ bản:
- Là một quyền công dân cơ bản, được hiến định và bắt nguồn từ tính chất ủy quyền của quyền lực nhà nước.
- Là một quyền con người mang tính chính trị rõ rệt, gắn liền với mối quan hệ pháp lý hành chính giữa cá nhân với nhà nước sở tại (áp dụng có điều kiện hoặc hạn chế đối với người nước ngoài).
- Là biểu hiện của tính dân chủ trong hoạt động nhà nước, giúp khắc phục tính mệnh lệnh đơn phương của quản lý hành chính.
- Phụ thuộc lớn vào thiện chí và nghĩa vụ hành động tích cực từ phía các cơ quan nhà nước.
- Phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, hạ tầng kỹ thuật và mức độ quan tâm của xã hội.
- Có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ, là điều kiện tiên quyết để thực hiện các quyền con người, quyền công dân khác.
- Luôn có sự giằng co, liên hệ mật thiết với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, lợi ích công cộng và quyền riêng tư của cá nhân.
- Vai trò của quyền: Được phân tích toàn diện trên hai nhóm quyền:
- Nhóm quyền chính trị, dân sự: Cung cấp dữ liệu để cử tri thực hiện quyền bầu cử, ứng cử; bảo đảm năng lực giám sát, chất vấn của đại biểu dân cử; là căn cứ thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và yêu cầu bồi thường nhà nước khi có hành vi hành chính trái pháp luật; có mối quan hệ gắn kết không tách rời với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
- Nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội: Minh chứng qua luận điểm của Amartya Sen về việc minh bạch thông tin giúp giảm nghèo đói; hỗ trợ công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh thông qua nắm bắt quy hoạch, chính sách ngành; bảo đảm quyền lao động và việc làm; bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong sạch (tác giả liên hệ với sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung để nhấn mạnh nhu cầu minh bạch dữ liệu xả thải, đánh giá tác động môi trường).
- Tác động tới xây dựng nền hành chính hiện đại: Thiết lập dòng tương tác thông tin hai chiều giữa chính quyền và nhân dân, giúp hạn chế quan liêu, nâng cao tính khả thi của quyết định hành chính và là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước hữu hiệu.
Chương 3: Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích thực trạng pháp lý và thực tiễn thi hành qua các thời kỳ:
- Tiến trình lập hiến và pháp luật thực định: Các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 chưa ghi nhận thuật ngữ "quyền được thông tin". Đến Hiến pháp năm 1992, quyền này lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 69 ("theo quy định của pháp luật"). Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định tại Điều 25 với bước chuyển biến quan trọng về kỹ thuật lập pháp khi phân định rõ quyền tiếp cận thông tin. Tháng 4/2016, Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin, tạo hành lang pháp lý điều chỉnh trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước.
- Thực tiễn thực hiện trong các lĩnh vực chủ yếu: Tập trung vào lĩnh vực quản lý đất đai, quy hoạch xây dựng, giải phóng mặt bằng và bảo vệ môi trường. Thực tế cho thấy cơ quan hành chính còn chậm công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phương án bồi thường, dẫn đến việc người dân thiếu thông tin đối chứng, phát sinh khiếu nại phức tạp và kéo dài.
- Dữ liệu thống kê về hình thức cung cấp và nhận thức xã hội: Luận án thống kê các kênh tiếp cận và mức độ nhận biết của người dân về thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin thông qua hai bảng số liệu tổng hợp trong văn bản:
| Số hiệu bảng |
Tên bảng số liệu trong luận án |
Vị trí trang |
Nội dung phản ánh chính |
| Bảng 3.1 |
Cơ cấu về hình thức cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước |
Trang 106 |
Phản ánh tỷ lệ các hình thức cung cấp thông tin được cơ quan nhà nước sử dụng (công khai trên cổng thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở, cung cấp qua báo chí, cung cấp theo yêu cầu bằng văn bản). |
| Bảng 3.2 |
Nhận thức của người dân về việc yêu cầu cung cấp thông tin theo đánh giá |
Trang 115 |
Phản ánh mức độ hiểu biết của công dân về quyền yêu cầu cung cấp dữ liệu, quy trình nộp phiếu yêu cầu và tỷ lệ người dân biết các quy định pháp luật liên quan. |
- Đánh giá tổng quát:
- Điểm tích cực: Khung khổ thể chế từng bước được hoàn thiện; cổng thông tin điện tử của các bộ, ngành, địa phương được vận hành; thủ tục hành chính được niêm yết công khai tại bộ phận một cửa.
- Tồn tại, hạn chế: Quy định pháp luật còn nằm rải rác ở nhiều văn bản chuyên ngành; ranh giới giữa thông tin công khai và bí mật nhà nước chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến tâm lý e ngại hoặc lợi dụng quy định bảo mật để từ chối cung cấp thông tin; chế tài xử lý cán bộ, công chức chậm trễ hoặc từ chối cung cấp thông tin chưa nghiêm; kênh tiếp nhận phản hồi hai chiều từ người dân còn hạn chế.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong quản lý lí hành chính nhà nước
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo: bảo đảm quyền tiếp cận thông tin phải gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; gắn với công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước; phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước.
Năm nhóm giải pháp cụ thể được luận án luận giải:
- Nâng cao nhận thức của các chủ thể: Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để người dân nhận thức rõ quyền và trách nhiệm khi yêu cầu thông tin; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, chuyển đổi tư duy từ "ban phát thông tin" sang "trách nhiệm phục vụ nhân dân".
- Quy định cụ thể, minh bạch các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin: Rà soát, xác định rõ thẩm quyền và đầu mối chịu trách nhiệm cung cấp thông tin tại các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương; gắn trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cơ quan công quyền.
- Tăng cường sự chủ động công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cơ quan hành chính phải chủ động rà soát, công bố rộng rãi trên môi trường mạng các quy hoạch, dự án đầu tư, dự toán ngân sách, chính sách quản lý đất đai; phân định rành mạch danh mục tài liệu mật để tránh tình trạng lạm dụng đóng dấu mật nhằm che giấu thông tin.
- Chi tiết hoá các quy định về hình thức, trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin: Ban hành quy chuẩn rõ ràng về thời hạn cung cấp thông tin, quy trình xử lý phiếu yêu cầu, mẫu phiếu yêu cầu, chi phí thực tế tiếp cận thông tin; quy định cụ thể căn cứ từ chối và trách nhiệm thông báo lý do bằng văn bản cho người dân.
- Phát triển, đa dạng hoá các kênh tiếp nhận và phản hồi: Hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cấp chất lượng cổng thông tin điện tử; tổ chức các đường dây nóng, hộp thư tiếp nhận ý kiến; thiết lập cơ chế giám sát xã hội và bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện hành chính của công dân khi quyền tiếp cận thông tin bị xâm phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn của luận án gồm 4 điểm chính:
- Một là, luận án phân tích quyền tiếp cận thông tin, vị trí của quyền này trong hệ thống quyền con người và vai trò đối với sự phát triển bền vững; xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về quyền tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước; luận giải sâu sắc 7 đặc điểm bản chất và vai trò của quyền đối với việc thực thi các quyền công dân cũng như xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
- Hai là, phân tích một cách có hệ thống sự tác động của chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước tới khả năng tiếp cận thông tin của công dân.
- Ba là, làm sáng tỏ vai trò của thông tin như là cơ sở ban hành quyết định hành chính và thực thi pháp luật; chỉ rõ những khoảng trống của pháp luật thực định về việc thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm công khai, minh bạch và giải trình của các cơ quan công quyền; khẳng định sự cần thiết phải thiết lập cơ chế giám sát từ phía công chúng đối với hoạt động của bộ máy hành chính.
- Bốn là, đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ, từ nâng cao nhận thức, phân định thẩm quyền chủ thể cung cấp, tăng cường công khai chủ động, chuẩn hóa quy trình thủ tục đến đa dạng hóa kênh phản hồi, tạo cơ sở cho việc triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 trên thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
Luận án được thực hiện tại thời điểm năm 2016, khi Luật Tiếp cận thông tin vừa được Quốc hội thông qua và chưa chính thức có hiệu lực thi hành (ngày có hiệu lực là 01/7/2018). Do đó, các đánh giá thực tiễn chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật chuyên ngành hiện hành lúc bấy giờ (Luật Đất đai, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Khiếu nại, Luật Báo chí...) mà chưa có điều kiện khảo sát thực chứng tác động của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 trong đời sống xã hội. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, chưa mở rộng phân tích sâu các góc độ tài chính công hoặc tố tụng tư pháp.
Về hướng nghiên cứu tiếp: