chương 1 và chương 2 [35]. Tuy 17 nhiên, giáo trình này chưa đề cập một cách sâu sắc và có hệ thống, toàn diện cơ sở lý luận cũng như những giải pháp về quyền sử dụng đất lâm nghiệp hiện nay. Bài viết của tác giả Nguyễn Hải Vân & Nguyễn Việt Dũng, “Chồng lấn quyền sử dụng đất: Thách thức cho quy hoạch và quản lý rừng đặc dụng ở Việt Nam” tổng hợp một số đánh giá ban đầu từ các nghiên cứu của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Trung tâm Tư vấn và Quản lý Tài nguyên (CORENARM) cùng Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung (CRD) trong năm 2014 về hiện trạng chồng lấn quyền sử dụng đất trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam [8]. Tài liệu tập hợp những số liệu và bằng chứng thực tế về hiện tượng chồng lấn thông qua các kết quả phân tích thống kê và khảo sát hiện trường của nhóm tác giả.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả cũng đề xuất lựa chọn cách tiếp cận đồng quản lý như một giải pháp phù hợp trước mắt phần nào giúp giải quyết những tồn tại mang tính lịch sử kể trên mà các khu rừng đặc dụng hiện đang phải đối mặt. Tác giả Huỳnh Tấn Anh (2006), Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của Lâm trường Thuận An huyện Đắc Song, Tỉnh Đắc Nông, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội. Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp. Đánh giá thực trạng quyền sử dụng đất lâm nghiệp của lâm trường, tìm các nguyên nhân ảnh hưởng tới quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của lâm trường [2].
Khuyến nghị một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất cho lâm trường trong các năm tới. Luận văn nghiên cứu khía cạnh kinh tế về thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của một lâm trường. Chưa tìm hiểu một cách toàn diện pháp luật về quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên phạm vi rộng. Tác giả Lê Minh Tuynh (2011), Quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với phát triển kinh tế ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị, Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Luận án làm rõ việc thực hiện quyền sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và các tỉnh Bắc Trung Bộ nói riêng. Khái quát, mô tả bức tranh hiện thực ở vùng Bắc Trung Bộ về quyền sử dụng đất nông nghiệp, phân tích quan hệ lợi ích kinh tế giữa chủ thể sử 18 dụng và nhà nước. Đồng thời luận án chỉ ra những bất cập trong chính sách đất đai qua từng giai đoạn lịch sử, làm luận cứ cho việc đưa ra các giải pháp để điều chỉnh chính sách đất đai, điều chỉnh quan hệ lợi ích kinh tế về quyền sử dụng đất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói chung và vùng Bắc Trung Bộ nói riêng [40]. Luận án nghiên cứu về góc độ kinh tế chính trị, không đi sâu nghiên cứu quyền sử dụng đất nông nghiệp theo góc độ chuyên ngành pháp lý.
Bài viết của nhóm tác giả Tô Đình Phúc, Phan Đình Nhã, Phạm Quang Tú, Đỗ Duy Khôi (2013), Mâu thuẫn đất đai giữa công ty lâm nghiệp và người dân địa phương, Hà Nội. Nghiên cứu này được thực hiện tại các nơi đang xảy ra tranh chấp giữa công ty lâm nghiệp và người dân tại Lạng Sơn, Quảng Bình, Đăk Lăk, Lâm Đồng. Nhìn chung, nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng người dân thiếu đất sản xuất cùng với những bất cập trong quản lý, sử dụng đất của các công ty lâm nghiệp, dẫn đến việc người dân đã lấn, chiếm đất, làm phát sinh mâu thuẫn [36]. Bài viết của tác giả Trần Quang Huy (2011), “Các vấn đề pháp lý về đất đai và bất động sản ở Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Luật học số 8/2011.
Bài viết đề cập đến quan hệ sở hữu, quan hệ đất đai ở Cộng hòa liên bang Đức. Nước Đức quy định có nhiều hình thức sở hữu về đất đai trong đó có sở hữu tư nhân về đất đai. Thông qua nghiên cứu các chính sách và pháp luật kinh doanh bất động sản của Cộng hòa Liên bang Đức, tác giả nêu một số kinh nghiệm áp dụng về vấn đề này cho Việt Nam [19]. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn đối với pháp luật về quyền sử dụng đất lâm nghiệp ở nước ta hiện nay.
Bài viết: “Hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường” của tác giả Lê Hải Đường và Đỗ Tiến Dũng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 22 (422), tháng 11/2020. Trong bài viết, các tác giả đã nhận định rằng: Trải qua quá trình hình thành và phát triển, các nông, lâm trường đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc cũng như bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn 19 xã hội trên địa bàn khu vực nông thôn, miền núi; giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân [10]. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của các nông, lâm trường cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, đặc biệt là trong quản lý, sử dụng đất đai. Vì vậy, cùng với việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các nông, lâm trường thì cần hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường… Bài viết: “Vấn đề thu hồi đất liên quan đến nông lâm” của tác giả Trần Chiến đăng trên web: https://dangcongsan.vn/ban-doc/y-kien-ban-doc/van-de-thu-hoi-dat- lien-quan-den-nong-lam-629196.
Tác giả cho rằng: Việc xác định giá đất phải đảm bảo thời điểm xác định giá đất và thời hạn sử dụng đất. Khi xác định giá đất cụ thể, đã gặp khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thời điểm để xác định giá đất, nguyên nhân là do ngày ban hành các quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất… và thời hạn sử dụng đất chưa xác định cụ thể (như ngày ban hành quyết định là một ngày, nhưng thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày nhà đầu tư được lựa chọn là chủ đầu tư), từ đó dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau… Tác giả Gerhard Weiss, Ivana Gudurie’ and Bernh Wolfslehner trong bài viết “Review of forest owners’ organizations in selected Eastern European countries” (đánh giá các tổ chức sở hữu rừng ở một số nước Đông Âu) chỉ ra rằng sở hữu tư nhân về đất đai, đặc biệt là sở hữu tư nhân những khu rừng mới đang là một vấn đề thách thức trong quản lý rừng. Đồng thời nghiên cứu chỉ ra những thách thức mà các quốc gia phải quan tâm khi đánh giá cơ cấu sở hữu tư nhân về rừng cũng như các chính sách. Đặc biệt, nếu thực hiện những chính sách như giao đất rừng cho người dân, cộng đồng, thì những vấn đề về quản lý rừng “tư nhân” đó phải trở thành chủ đề quan tâm.
Đây cũng là vấn đề chưa được giải quyết ở các nước Châu Âu cũng như ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất lâm nghiệp Bài viết của tác giả Trần Thị Minh Châu (2014), Phân chia lợi ích trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, số 11/2014. Bài viết chỉ 20 ra sự phân chia địa tô trong chế độ SHTD về đất đai ở nước ta giữa các chủ thể kinh tế là vô cùng phức tạp, có lợi cho một số cá nhân hoặc là nhóm lợi ích có ưu thế. Điều này là nguyên nhân chính gây ra sự bất công, mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện kéo dài về đất đai làm mất ổn định xã hội trong thời gian qua.
Để cơ chế phân chia địa tô đảm bảo được sự công bằng giữa các chủ thể trong xã hội, tác giả kiến nghị một số giải pháp trọng tâm cần phải thực hiện như: nâng cao chất lượng, tính dài hạn, ổn định, trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất; đảm bảo cho nông dân QSDĐ nông nghiệp lâu dài; chú trọng đầu tư dịch vụ công về đất đai và siết chặt kỷ luật đối với công chức và cơ quan quản lý đất đai để ngăn chặn lạm quyền, tham nhũng [4]. Bài viết của tác giả Vũ Văn Mễ (2014), Luật Đất đai năm 2013: Cơ hội cho đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo tại tỉnh Hoà Bình, Đăk Lăk, Đăk Nông, Hà Nội. Dựa trên kết quả khảo sát được thực hiện tại tỉnh Hoà Bình, Đăk Lăk, Đăk Nông nghiên cứu này đã đưa ra kết luận tình trạng thiếu đất, không có đất của đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh miền núi chính là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đói nghèo, tranh chấp đất đai và gây nên bất ổn xã hội. Đồng thời, tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần đẩy mạnh việc giao đất cho người dân tộc thiểu số trong bối cảnh thực hiện Luật Đất đai năm 2013 và chủ trương, chính sách mới ban hành trên cơ sở giải quyết kịp thời, đúng pháp luật những tồn tại hiện nay trong việc quản lý, sử dụng đất đai của các công ty nông, lâm nghiệp.
Tổ chức Oxfam (2013), Báo cáo về tham vấn cộng đồng góp ý kiến Dự thảo Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi. Nhóm thực hiện Báo cáo này đã tham vấn cộng đồng rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là phân tích các câu chuyện đau lòng về đất đai đã từng diễn ra thực tế ở Long An, Quảng Bình, Yên Bái. Trên cơ sở đó, nhóm thực hiện đưa ra các khuyến nghị sửa đổi LĐĐ năm 2003. Có thể đánh giá, các khuyến nghị của tổ chức Oxfam là xác đáng vì nó dựa trên ý kiến của một số lượng lớn người dân trong xã hội.
Trong số đó có một số khuyến nghị được nghiên cứu sinh sử dụng khi phân tích đề tài luận án của mình. Ví dụ, khuyến nghị cần giao đất cho người dân tộc thiểu số; thu hồi đất của người dân đã chết, người thoát ly làm việc nhà nước, người rời khỏi nơi cư trú; cần có chính sách quan tâm đến đời sống và sản 21 xuất, tạo việc làm cho người dân sau khi thu hồi đất; bổ sung quy định chi tiết hơn về công khai, minh bạch trong thu hồi đất.