CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 1. Thế chấp tài sản 1. Quan niệm về thế chấp tài sản Trong đời sống thực tiễn, tài sản do cá nhân làm ra thuộc sở hữu của riêng họ.
Pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình; họ có thể đem tài sản đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, pháp luật gọi chung là giao dịch bảo đảm. Một trong số đó là thế chấp tài sản. Khái niệm này được đề cập trong các sách, báo pháp lý ở nước ta.
Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn, Thế chấp là Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản, theo đó bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản được thế chấp là các bất động sản như nhà ở, vườn cây lâu năm, công trình xây dựng khác… có thể thế chấp một phần hoặc toàn bộ bất động sản để đảm bảo một hoặc nhiều nghĩa vụ, tùy theo giá trị của bất động sản cũng như tùy theo sự thỏa thuận của các bên. Hoa lợi phát sinh từ bất động sản, các vật phụ của bất động sản chỉ trở thành đối tượng của thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Thông thường tài sản thế chấp vẫn do bên thế chấp giữ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho bên nhận thế chấp hoặc người thứ ba giữ.
Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải có chứng nhận của tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng) hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu có bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Chế định thế chấp tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, và 2015. 6 Theo giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 2) của Trường Đại học Luật Hà Nội, Thế chấp tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên (hoặc theo quy định của pháp luật) theo đó bên có nghĩa vụ dùng tài sản của mình đê đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nhưng không chuyển giao tài sản cho bên có quyền (47, trang 77). Theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 thì: Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia.
Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp (Điều 317). Nhìn chung, dù quan niệm thế chấp dưới góc độ nào đi chăng nữa khi nhận định về thế chấp tài sản đều có những đặc điểm chung sau đây: Một là, cơ sở và nguồn gốc phát sinh của quan hệ thế chấp tài sản là có một quan hệ nghĩa vụ đã được xác lập từ trước và nghĩa vụ này được thực hiện một cách có điều kiện thông qua một tài sản cụ thể; Hai là, tài sản đảm bảo trong quan hệ thế chấp có thể là bất động sản nhưng cũng có thể bao gồm cả các tài sản không phải là bất động sản. Tuy nhiên, tài sản được sử dụng chủ yếu trong quan hệ thế chấp là bất động sản, trong đó đất đai (QSDĐ) thường được nhắc đến đầu tiên; Ba là, quyền sở hữu tài sản có thể được khôi phục hoàn toàn cho bên thế chấp nếu nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ như cam kết, hoặc quyền sở hữu có thể chấm dứt hoàn toàn đối với bên thế chấp và thuộc quyền định đoạt đối với bên nhận thế chấp nếu nghĩa vụ không được thực hiện.
Bản chất của thế chấp tài sản Thế chấp tài sản có 2 đặc điểm bản chất như sau: Thứ nhất, chúng được phát sinh trên cơ sở một quan hệ nghĩa vụ đã được xác lập từ trước. Có thể khẳng định việc xác định một giao dịch thế chấp tài sản dựa trên hai yếu tố cốt lõi, không tách rời nhau bao gồm nghĩa vụ phải trả một khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản và quyền lợi của chủ nợ đối với tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trong đó, khoản nợ là khởi nguồn, là nguyên nhân để bên có nghĩa vụ phải mang những tài sản thuộc sở hữu của mình lệ thuộc vào bên 7 có quyền để làm cơ sở cho việc thực hiện nghĩa vụ; tài sản trong mối quan hệ thế chấp thể hiện trách nhiệm của bên có nghĩa vụ và chỉ được đưa ra xem xét và xử lý khi nghĩa vụ trước đó không thực hiện được. Việc ký kết một hợp đồng thế chấp tài sản có thể được thực hiện đồng thời hoặc thực hiện sau khi ký kết một hợp đồng tín dụng (hợp đồng xác định khoản vay) phát sinh từ trước đó.
Thứ hai, thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm mang tính đối vật và có ý nghĩa hạn chế rủi ro cho bên có quyền. Trong mối quan hệ thế chấp tài sản, bên thế chấp bắt buộc phải có một vật, tài sản thuộc sở hữu hợp pháp để bảo đảm cho nghĩa vụ của mình; trên cơ sở đó, bên thế chấp thực hiện xác lập trực tiếp quyền của bên nhận thế chấp đối với tài sản cụ thể đó. Đây là lợi thế của thế chấp tài sản so với hình thức bảo lãnh là biện pháp thực hiện nghĩa vụ mang tính đối nhân, trong đó không có đối tượng tài sản cụ thể mà chữ tín được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu dựa trên khả năng, uy tín và sự cam kết của một chủ thể khác bên cạnh chủ thể có nghĩa vụ. Bên cạnh đó, quyền của bên nhận thế chấp đối với tài sản bảo đảm tồn tại trong toàn bộ thời gian có hiệu lực của hợp đồng và có vị trí ưu tiên hơn so với các chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ không có bảo đảm.
Ví dụ: Quyền ưu tiên thanh toán trước, quyền nhận chính tài sản bảo đảm…khi xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp nghĩa vụ chính không được thực hiện. Thực tế cho thấy, đây là biện pháp được đánh giá bởi tính hiệu quả trong việc thu hồi vốn vay trong trường hợp tuân thủ, thực hiện nghiêm túc pháp luật về thế chấp. Mối liên hệ giữa thế chấp và một số biện pháp bảo đảm khác - Mối liên hệ giữa thế chấp và cầm cố: Cũng giống như thế chấp tài sản, chế định cầm cố tài sản cũng được quy định trong BLDS 1995, 2005 và 2015. Theo BLDS 2015, cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để đảo bảo thực hiện nghĩa vụ (Điều 309).
Như vậy cầm cố tài sản và thế chấp tài sản đều là những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự mà theo đó các bên cầm cố/thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận cầm cố/bên nhận thế chấp. Tuy nhiên giữa 2 biện pháp này cũng có nhiều điểm khác nhau cần phân 8 biệt. Cụ thể, BLDS 2005 phân biệt hai biện pháp này không phụ thuộc vào tài sản là động sản hay bất động sản, mà phụ thuộc vào đặc điểm tài sản đó có chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ hay không. Nếu tài sản bảo đảm được giao cho bên nhận bảo đảm giữ để bảo đảm nghĩa vụ dân sự thì hai bên thỏa thuận áp dụng biện pháp cầm cố tài sản.
Như vậy, cầm cố tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thông dụng, phổ biến, theo đó bên có nghĩa vụ (bên cầm cố) bảo đảm rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền. Để có thể chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố giữ thì phần lớn các trường hợp là bên cầm cố sử dụng tài sản là động sản (có thể là vật, tiền hoặc giấy tờ có giá). Mặc dù điều 326 BLDS 2005 không quy định tài sản được sử dụng để cầm cố là động sản hay bất động sản (nghĩa là fvề mặt lý thuyết thì có thể cầm cố bất động sản nếu có thể giao bất động sản này cho bên nhận cầm cố giữ (ví dụ A cần vay B một khoản tiền 100 triệu đồng để kinh doanh với thời hạn 01 năm, để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của mình, A giao vườn cây nhãn thuộc sở hữu của mình cho B giữ và các bên có thể thỏa thuận B có thể thu hoạch nhãn trong vụ hè và sẽ giao lại vườn nhãn cho A khi A trả đủ tiền vay theo hợp đồng, nhưng đối với một số loại bất động sản pháp luật chỉ quy định chủ sở hữu (hoặc hủ sử dụng) chỉ có thể sử dụng biện pháp thế chấp mà không quy định biện pháp cầm cố. Ví dụ thế chấp nhà ở theo Điều 21 Luật Nhà ở năm 2005, thế chấp QSDĐ theo quy định tại Luật Đất đai 2013.
Như vậy, chỉ có các công trình xây dựng, các tài sản khác gắn liền với đất đai là chưa có quy định cụ thể về quyền của chủ sở hữu khi sử dụng tài sản này làm tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ dân sự. Mặc dù vậy, có ít trường hợp một người nào đó dùng công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu của mình để làm tài sản cầm cố, bởi vì chỉ có thể coi là áp dụng biện pháp cầm cố tài sản khi tài sản đó được chuyển giao cho bên nhận cầm cố. Việc bên cầm cố giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố là giao tài sản thực tế, tức là bên nhận cầm cố thực sự giữ tài sản cầm cố chứ không phải chỉ chiếm giữ giấy tờ sở hữu.