Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 1. Lý luận về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1. Khái niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1. Quan niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai; đặc biệt kể từ khi Luật Đất đai năm 1993 được ban hành.
Thuật ngữ này tiếp tục được đề cập trong Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013. Xét dưới góc độ học thuật, khái niệm GCNQSDĐ được giới khoa học pháp lý nước ta xem xét, tìm hiểu và có một số cách giải thích về thuật ngữ này như sau: - Theo Luật Đất đai năm 2013: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất"1. - Giáo trình Luật Đất đai xuất bản năm 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội quan niệm: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư Nhà nước cấp cho người sử dụng đất để họ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp về đất đai và được Nhà nước bảo hộ khi quyền của họ bị xâm phạm"2. - Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn năm 2006: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất"3.
Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 2. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. Bộ Tư pháp - Viện Khoa học Pháp lý: Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp & Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006, tr. 8 - Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Chứng thư pháp lý đầy đủ xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất"4 v.
Như vậy, mặc dù có những quan niệm khác nhau về GCNQSDĐ trong sách, báo pháp lý ở nước ta song giới luật học đều thống nhất với nhau ở điểm GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý do Nhà nước cấp cho người sử dụng đất để công nhận QSDĐ của họ là hợp pháp. Đặc điểm của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tìm hiểu về GCNQSDĐ, tác giả rút ra một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, GCNQSDĐ là một loại giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền - được pháp luật quy định - đó là Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) chịu trách nhiệm phát hành thống nhất trong phạm vi cả nước. Giấy này được Nhà nước cấp cho người sử dụng đất, sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất khi họ đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Thứ hai, GCNQSDĐ là kết quả hay là sản phẩm "đầu ra" của quá trình kê khai, đăng ký đất đai, điều tra, đo đạc, khảo sát, thống kê đất đai, lập bản đồ địa chính.
Điều này có nghĩa là cấp GCNQSDĐ là công việc không hề đơn giản. Để có thể cấp GCNQSDĐ cho một chủ thể sử dụng đất, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thẩm tra hồ sơ, xác định rõ nguồn gốc sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất; diện tích đất, chủ sử dụng đất, mục đích sử dụng đất; xác định rõ ranh giới, vị trí, hình thể thửa đất, tọa độ gốc cũng như tính ổn định lâu dài của việc sử dụng đất v. nhằm đảm bảo sự chính xác, khách quan và không có sự tranh chấp về đất đai với các chủ sử dụng đất lân cận. Trên cơ sở xác minh, thu thập đầy đủ các thông tin về thửa đất thì mới có cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ nhằm xác định tính hợp pháp của việc sử dụng đất cho một chủ thể.
Do đó, GCNQSDĐ là kết quả cuối cùng của một loạt các thao tác nghiệp vụ của quá trình 4. Trường Đại học Luật Hà Nội: Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 1999, tr. 9 kê khai, đăng ký đất đai, điều tra, đo đạc, khảo sát, thống kê đất đai, lập bản đồ địa chính. Thứ ba, cấp GCNQSDĐ là một biểu hiện của việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước.
Điều này có nghĩa là không phải bất cứ tổ chức, cá nhân nào cũng có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ mà theo quy định của pháp luật đất đai chỉ có cơ quan thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai có thẩm quyền mới được cấp GCNQSDĐ. Các cơ quan này bao gồm Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và UBND cấp huyện. Hơn nữa, việc cấp GCNQSDĐ phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện, đối tượng v. được pháp luật quy định rất chặt chẽ.
Thứ tư, việc cấp GCNQSDĐ là hoạt động vừa mang tính pháp lý vừa mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Tính pháp lý thể hiện khi cấp GCNQSDĐ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân thủ các quy định về đối tượng, điều kiện, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục v. do pháp luật quy định. - Tính kỹ thuật, nghiệp vụ thể hiện để có thể cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thẩm tra, xác minh hồ sơ, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất v.v cũng như các quy trình kỹ thuật, định mức kỹ thuật được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc là cơ quan TN&MT.
Các quy trình kỹ thuật, định mức kỹ thuật được Bộ TN&MT ban hành dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật là thông tư, quyết định để áp dụng thống nhất giữa các địa phương trong cả nước. Mục đích và ý nghĩa của cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất i) Ý nghĩa của cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Nhà nước Tìm hiểu về GCNQSDĐ, tác giả thấy rằng việc cấp giấy này có ý nghĩa quan trọng đối với Nhà nước, cụ thể: Thứ nhất, cấp GCNQSDĐ là cơ sở để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với đất đai. 10 Cấp GCNQSDĐ là một hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích cộng đồng. Ý nghĩa này được nhìn nhận ở các khía cạnh khác nhau.
Một là, cấp GCNQSDĐ là một trong những cơ sở quan trọng giúp Nhà nước xây dựng, điều chỉnh chính sách đất đai cũng như thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua hoạt động xem xét và cấp GCNQSDĐ, Nhà nước nắm bắt được thông tin về tình hình sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước, từ đó phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách đất đai và đề xuất chiến lược quản lý và sử dụng đất có hiệu quả. Hai là, hoạt động này giúp cho công tác quy hoạch sử dụng đất, thống kê đất đai diễn ra thuận lợi, tiết kiệm chi phí và thời gian. Chưa làm tốt công tác cấp GCNQSDĐ thì không thể phân biệt được diện tích đất nào thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình, phần diện tích nào là do lấn, chiếm v.
Chưa xác định được một cách cụ thể trường hợp nào là sử dụng đất hợp pháp, trường hợp nào thuộc diện không hợp pháp để có cơ chế xử lý thích hợp. Chính điều này gây không ít khí khăn cho Nhà nước trong thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất. Thứ hai, hoạt động cấp GCNQSDĐ tạo lập nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đặc biệt là ngân sách địa phương. Cấp GCNQSDĐ là hoạt động đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Có thể khẳng định rằng, qua việc cấp GCNQSDĐ, Nhà nước sẽ có đầy đủ thông tin phục vụ cho việc thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất và lệ phí địa chính v. Thông qua việc cấp GCNQSDĐ, Nhà nước thu phí và lệ phí về đất đai, tiền sử dụng đất. Đây là một khoản thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước trong điều kiện hằng năm Nhà nước phải chi ra một khoản tài chính khá lớn để đầu tư cho công tác quản lý đất đai. Thực hiện việc cấp GCNQSDĐ sẽ góp phần khắc phục tình trạng thu từ đất ít hơn đầu tư cho đất, thể hiện rõ định hướng "lấy đất nuôi đất" của Nhà nước.
11 Thứ ba, hoạt động cấp GCNQSDĐ giúp Nhà nước theo dõi và kiểm soát các giao dịch đất đai của người sử dụng đất nhằm minh bạch và công khai hóa thị trường bất động sản. Nhà nước thông qua hoạt động cấp GCNQSDĐ, sẽ kiểm soát được các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất. Hiện nay các giao dịch đất đai diễn ra một cách sôi động, đặc biệt ở các thành phố lớn. Thực tế có sự tồn tại hai loại giao dịch: giao dịch hợp pháp và giao dịch bất hợp pháp, ví dụ như: chuyển nhượng QSDĐ không làm thủ tục nhằm mục đích trốn thuế; chuyển QSDĐ không đủ điều kiện; chuyển nhượng QSDĐ trái phép nhằm mục kiếm lời v.
Các giao dịch ngầm đó đã tạo nên những cơn sốt đất ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, dẫn đến sự đầu cơ đất đai và phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Chính vì vậy cần phải có sự quản lý, điều tiết kịp thời của Nhà nước để từng bước đưa các giao dịch đất đai ngầm nằm dưới sự kiểm soát của pháp luật. Hơn nữa, cấp GCNQSDĐ được xem như một cơ chế do Nhà nước đề ra nhằm xác lập sự an toàn pháp lý cho cả hai phía: Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau ii) Ý nghĩa của cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với người sử dụng đất Thứ nhất, việc cấp GCNQSDĐ là đảm bảo pháp lý để người sử dụng đất yên tâm khai thác, đầu tư lâu dài trên đất.