Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất Chương 2: Thực trạng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất Chương 3: Thi hành pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Mỹ Hào, Hưng Yên và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật chuyển nhượng quyền sử dụng đất - Phần kết luận - Danh mục tài liệu tham khảo 9 PHẦN NỘI DUNG HƯƠNG NHỮNG VẤN ĐỀ UẬN VỀ HU ỂN NHƯ NG QU ỀN S NG ĐẤT V PH P UẬT HU ỂN NHƯ NG QU ỀN S NG ĐẤT 1. Nh ng vấn đề l luận về chu ển như ng u ền ng đấ 1. Khái ni m và đ đ m đất 1. Khái niệm d Đất đai hiện là nguồn tài nguyên vô giá, là một vấn đề được nhiều người quan tâm và hiện nay là vấn đề nóng bỏng trên bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào.
C ng vì thế mà Nhà nước ta đã ban hành c ng như không ngừng hoàn thiện pháp luật đất đai để đảm bảo bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp c ng như việc thực hiện nghiêm túc trách nhiệm, nghĩa vụ của người dân. Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật đất đai 2013 thì đất đai thuộc sở hữu của toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý3. Nhà nước theo đó trao quyền sử dụng đất cho người dân thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất. Luật c ng công nhận quyền sử dụng đất đối với những người sử dụng đất ổn định và quy định về quyền c ng như nghĩa vụ chung của người sử dụng đất.
Song song đó, luật c ng đưa ra khái niệm về giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định ho c hình thành trong giao dịch về QSDĐ4. Còn giá trị QSDĐ là giá trị tính bằng tiền của QSDĐ trên một đơn vị diện tích xác định trong một thời gian sử dụng nhất định5. Người sử dụng đất được sở hữu phần giá trị QSDĐ, được ph p chuyển nhượng QSDĐ đối với các phần diện tích được giao tương ứng với nghĩa vụ thực hiện với Nhà nước. Với các quy định nêu trên, QSDĐ có thể được hiểu ở các khía cạnh sau đây: Xem x t quyền sử dụng đất của người sử dụng đất khi được Nhà nước với tư 3 Xem: Điều 53, 54 Hiến pháp 2013 và Điều 4 Luật đất đai 2013.
4 Xem: Khoản 19 Điều 3 Luật đất đai 2013. 5 Xem: Khoản 20 Điều 3 Luật đất đai 2013. 10 cách là chủ sở hữu đại diện trao cho thông qua các hình thức: giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở pháp lý này, người sử dụng đất đầu tư công sức, vật tư, tiền vốn, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự sáng tạo của con người nhằm khai thác các giá trị, các lợi ích từ đất nhằm thỏa mãn các nhu cầu của người sử dụng đất.
Không chỉ dừng lại ở đó, người sử dụng đất khi có quyền sử dụng đất hợp pháp còn được dùng quyền sử dụng đất của mình để trao đổi, giao dịch, định đoạt theo mục đích và ý chí của người sử dụng đất. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất được tách ra thành một quyền độc lập với quyền sở hữu, trở thành quyền tài sản của người sử dụng đất. Đến đây có thể hiểu khái quát, Quyền sử dụng đất ữ ả của mộ c ủ c c ện ho c c ở ữ ị a c d ữ c t ghi nh ảm bả c ệ c ế Trong phạm vi luận văn này, quyền sử dụng đất được nghiên cứu dưới khía cạnh là quyền tài sản của người sử dụng đất mà không nghiên cứu là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu đất đai. Theo đó, quyền sử dụng đất được hiểu ở những phương diện sau đây: nhìn nhận dưới góc độ kinh tế, QSDĐ về bản chất là một quyền dân sự, theo đó chủ thể sử dụng đất được thực hiện những quyền cụ thể ho c có quyền yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình.
Cụ thể, NSDĐ được quyền kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận trên mảnh đất của mình thông qua việc sử dụng, khai thác diện tích đất đó vào các mục đích khác nhau nhằm tận dụng tối đa lợi ích vốn có từ đất và những lợi ích thu được từ đất. Bên cạnh đó, họ có quyền yêu cầu những NSDĐ khác không thực hiện những hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của họ như: Không được lấn chiếm, hủy hoại đất ho c có hành vi cản trở đến việc thực hiện QSDĐ của họ. Như vậy, dưới góc độ kinh tế, QSDĐ được biểu hiện bằng những quyền năng cụ thể của NSDĐ, những quyền năng này được thực hiện trong quá trình khai thác và sử dụng đất sẽ mang lại lợi ích cho NSDĐ. a nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, QSDĐ là quyền mà pháp luật ghi 11 nhận cho NSDĐ được hưởng, được thực hiện trong quá trình khai thác, sử dụng đất.
Dưới góc độ này, thông qua việc ghi nhận QSDĐ của mỗi chủ thể sử dụng đất, vai trò của Nhà nước trong vấn đề quản lý, khai thác nguồn tài nguyên đất đai được thể hiện rõ rệt. Cụ thể, lợi ích của NSDĐ có được đáp ứng hay không phụ thuộc vào việc pháp luật có quy định cho họ được ph p thực hiện ho c được hưởng quyền hay không, mức độ hưởng quyền đến đâu và khả năng đảm bảo của Nhà nước thể hiện như thế nào khi họ thực hiện QSDĐ. Trên thực tế, các quốc gia khác nhau, với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau với bản chất nhà nước riêng biệt thì khả năng đảm bảo về m t pháp lý QSDĐ cho NSDĐ là khác nhau. Từ việc phân tích, xem x t QSDĐ trên cả hai phương diện trên, khái niệm Đ c ữ d c của Đ c lu t ghi nh ị c c c ớc ảm bả c ệ ố ớ c cc ủ d ì a c d 1.1 1 2 Đ c m của d Như đã phân tích ở trên, tùy thuộc vào hình thức sở hữu đối với đất đai, mỗi quốc gia khác nhau ghi nhận QSDĐ rất khác nhau.
Tuy nhiên, nếu xem x t, nghiên cứu QSDĐ trong phạm vi là quyền khai thác những công dụng, thuộc tính có ích từ đất thì có thể rút ra những đ c điểm chung mang tính khái quát về QSDĐ như sau: QSDĐ là một trong ba quyền phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu đất đai. Đối với tài sản nói chung, quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản bao gồm ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Đối với tài sản là đất đai, chủ sở hữu đất đai c ng có đầy đủ ba quyền nêu trên và QSDĐ là một trong những quyền năng của quyền sở hữu đất. Đầu tiên, quyền sử dụng tài sản nói chung hay tài sản là đất đai nói riêng phải thuộc về chủ sở hữu tài sản.
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ được khai thác, sử dụng tài sản trong những trường hợp, điều kiện đ c biệt như: được chủ sở hữu cho ph p sử dụng ho c ủy quyền. Tuy nhiên, tùy thuộc vào chế độ sở hữu đất đai ở các nước mà nội dung của QSDĐ được 12 biểu hiệu khác nhau. Ch ng hạn như ở các nước duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thì QSDĐ là một quyền năng không thể tách rời quyền sở hữu. Người có QSDĐ c ng chính là người có quyền sở hữu mảnh đất đó.
Vì thế mà trong quá trình sử dụng đất và thực hiện QSDĐ, họ đồng thời được xác định là có quyền quyết định, định đoạt số phận pháp lý đối với mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình. Không giống như các nước duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, ở Việt Nam, toàn bộ đất đai của quốc gia thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Chế độ này được quy định r ràng tại Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013. Trên cơ sở đó, Nhà nước trao QSDĐ cho các tổ chức và cá nhân thông qua các hình thức như giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền ho c cho thuê đất.
Qua đó, các cá nhân và tổ chức được trao QSDĐ trở thành chủ thể có QSDĐ chứ không phải là chủ sở hữu đất đai. Tuy nhiên, để đảm bảo họ có thể khai thác tối đa tiềm năng, giá trị của đất, Nhà nước đảm bảo cho họ được thực hiện các quyền năng mở rộng trong quá trình sử dụng, đ c biệt là các quyền giao dịch dân sự về đất đai. Như vậy, dù có được biểu hiện ở nhiều nội dung, hình thức khác nhau phụ thuộc vào chế độ sở hữu, tựu chung lại, QSDĐ là quyền phái sinh, quyền thứ hai trong ba quyền năng tùy thuộc vào ý chí của chủ sở hữu đất đai. Nói cách khác, QSDĐ là một hình thức thực hiện quyền sở hữu đất đai6.
a QSDĐ là một loại quyền về tài sản. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015, đất đai là một BĐS chủ yếu vì thế về bản chất đất đai c ng là một loại tài sản. Quyền tài sản theo định nghĩa tại Điều 115 BLDS năm 2015 là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Quyền tài sản là một khái niệm rất rộng tuy nhiên chỉ có những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 105 BLDS 6 TS.
Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), “Pháp lu t v chuy ng quy n s d t trong kinh doanh b ộng sản ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Vì vậy, yếu tố tài sản của QSDĐ lại được thể hiện, bản thân đất đai được xác định là BĐS song nó lại là đối tượng của nhiều quan hệ tài sản như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp,.