mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phục lục, nội dung của khóa luận này gồm 02 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận – pháp lý về quyền lập hội của công dân. Ở chương này, tác giả đưa ra những nhận thức ban đầu về quyền lập hội của công dân về mặt lý luận, lịch sử và so sánh quyền lập hội của công dân quy định trong các bản Hiến pháp ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử, đồng thời nghiên cứu quyền lập hội của một số nước trên thế giới. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện quyền lập hội ở nước ta và phương hướng hoàn thiện. Phần này, tác giả đi sâu vào việc tìm hiểu hoạt động của các hội ở nước ta hiện nay, những quy định của pháp luật trong nước về quyền lập hội của công dân, việc thực hiện những quy định của pháp luật trên thực tế, những bất cập còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện pháp luật trong nước để đảm bảo quyền lập hội của công dân.
Quyền lập hội của công dân… GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Minh Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN LẬP HỘI CỦA CÔNG DÂN. Sơ lƣợc lịch sử quyền lập hội: 1. Trên thế giới: Ý thức về nhân quyền và việc thực hiện nhân quyền là một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển của loài người và giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp. Do đó, có thể nói quyền con người là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loại.
Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con người hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh hết sức lâu dài, gian khổ của toàn thể nhân loại tiến bộ, chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Quyền tự do lập hội với tư cách là một bộ phận của quyền con người cũng đã phải trải qua một quá trình lâu dài để được ghi nhận trong các văn bản quốc tế. Quyền tự do lập hội của công dân chính thức được tạo lập từ thế kỉ XX, tuy đã được quy định trong các văn bản pháp luật của một số nước trên thế giới, nhưng đến năm 1948, khi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR) ra đời (được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III), ngày 10/12/1948) quyền tự do lập hội của công dân mới thực sự được thừa nhận trên toàn thế giới thông qua Điều 20 của Tuyên ngôn này. Đây được coi là một trong hai văn kiện quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền, Tuyên ngôn nhân quyền (1948) được Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong những thành tựu lớn đạt được của Liên Hiệp Quốc và có ý nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và dân tộc về các quyền con người.Theo tinh thần của tuyên ngôn, mọi người đều có SVTH: Phan Nhƣ Quỳnh Trang 1 Quyền lập hội của công dân… GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Minh quyền tự do hội họp và lập hội, không ai có quyền cưỡng ép họ gia nhập vào đoàn thể nào.
Mọi người đều có quyền tự do họp hành và tham gia hiệp hội một cách hòa bình. Không ai bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội nào.” ( Trích Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948) Tiếp đó, đến Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) (được thông qua và để ngỏ cho các nước ký kết, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc số 2200, ngày 16-12- 1966, có hiệu lực từ ngày 23-3-1976, Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982)1, quyền lập hội của công dân lại mội lần nữa được khẳng định thông qua Điều 22 của công ước này. Trong đó nêu rõ: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình. Việc thực hiện quyền này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát.
Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình. Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác. Điều này không ngăn 1 Chủ biên: Hoàng Văn Hảo, Chu Hồng Thanh - Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Xuất bản lần thứ hai (có sửa chữa, bổ sung), NXB. Chính trị quốc gia, H.
SVTH: Phan Nhƣ Quỳnh Trang 2 Quyền lập hội của công dân… GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Minh cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát. Không một quy định nào của điều này cho phép các quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội năm 1948 của Tổ chức Lao động quốc tế được tiến hành những biện pháp lập pháp hoặc hành pháp làm phương hại đến những bảo đảm nêu trong Công ước đó.” (Trích Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966) Và quyền tự do lập hội theo quy định của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 thì đều không phải là một quyền tuyệt đối, bởi nó cho phép các quốc gia có thể đưa ra nhưng hạn chế trong việc thực hiện những quyền này, miễn là phải dựa trên những quy định của Tuyên ngôn và Công ước. Như vậy, ta có thể thấy quyền lập hội của công dân đã được thế giới công nhận thông qua các quy định của pháp luật như một quyền cơ bản của con người và không một cá nhân, pháp nhân hay quốc gia nào xâm phạm miễn công dân thực hiện quyền đó trong quy định của pháp luật, không gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Hai văn bản trên đã có giá trị pháp lý hết sức quan trọng cho việc thừa nhận quyền lập hội của công dân trên thế giới, và đó cũng là tiền đề cho việc ra đời các văn bản pháp luật sau này của thế giới cũng như của mỗi quốc gia.
Việt Nam: Lịch sử quyền lập hội ở nước ta cần được xem xét ở một quá trình dài trong lịch sử để thấy được sự thay đổi về sự ghi nhận quyền này ở Việt Nam. Ngày 27/12/1920, Đại hội Phân bộ Pháp của phong trào Công nhân Quốc tế (SFIO) – tiền thân của Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Pháp diễn ra SVTH: Phan Nhƣ Quỳnh Trang 3 Quyền lập hội của công dân… GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Minh tại Tour 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia Đại hội với tư cách là người được Nhóm xã hội Đông Dương ủy quyền, tại đây người đã phát biểu như sau: “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và cũng không có quyền tự do hội họp, lập hội. Như vậy, trước đây, khi đất nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, quyền lập hội của công dân không hề được ghi nhận tại Việt Nam, mặc dù đã được nhiều nước trên thế giới công nhận là một quyền cơ bản của con người. Mãi đến năm 1946, tuân thủ những cam kết trong các Điều ước quốc tế mà mình là thành viên, đồng thời nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng quan trong của các tổ chức quần chúng đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, nên ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, lập hội cũng được xem là một quyền cơ bản của công dân tại Việt Nam.
Quyền này được quy định lần đầu tiên tại Điều 10 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946. Như vậy, ngay sau khi giành được độc lập, trong bản Hiến pháp đầu tiên ở nước ta, quyền lập hội đã được Nhà nước ta tuyên bố long trọng khẳng định là quyền hiến định của công dân. Cũng vào năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 52 ngày 22/4/1946 về lập hội (15 Điều). Và do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước mà Hiến pháp năm 1946 không được công bố và thi hành, nhưng chỉ 3 năm sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, ngày 20/05/1957, Sắc lệnh số 102/ SL-L004 ban hành Luật quy định về quyền lập hội ra đời (12 Điều), kể từ đó, quyền lập hội của công dân đã chính thức có một văn bản quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân khi thành lập hội, cái mà trước đây chỉ được quy định một cách khái quát nhất trong Hiến pháp.
Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước ta về quyền lập hội của công 2 Nhà pháp luật Việt Nam – Kỷ yếu hội thảo “Pháp luật về hội”. Hà Nội, 2004, tr. SVTH: Phan Nhƣ Quỳnh Trang 4 Quyền lập hội của công dân… GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Minh dân. Và đến ngày 4/6/1957 thì Nghị định 258/TTg ra đời quy định chi tiết thi hành luật 102 về quyền lập hội.
Tuy nhiên, thời gian này đất nước chưa được hoàn toàn giải phóng nên cả luật số 102/ SL-L004 và Nghị định 258 mới chỉ được thực hiện trên phạm vi miền Bắc. Và quyền lập hội của công dân lại tiếp tục được hiến định thông qua các bản hiến pháp 1959, năm 1989, năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) trong suốt chiều dài lịch sử. Sau đó đến ngày 30/07/2003 thì Chính phủ ban hành NĐ số 88/2003/NĐ-CP để thay thế NĐ số 258 của Thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng. Tiếp đó thì ngày 21/4/2010 thì Chính phủ ban hành tiếp NĐ số 45/2010/NĐ-CP để thay thế NĐ số 88 quy định về tổ chức, hoạt động của một hội.
Và các bản hiến pháp trên cũng như các nghị định hướng dẫn đã có phạm vi trên khắp cả nước.