CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN LẬP HỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các mối quan hệ của quyền lập hội 1. Khái niệm quyền lập hội 1. Khái niệm hội Về thuật ngữ, trong tiếng Anh, “hội” thường được thể hiện qua hai thuật ngữ là Association và Society.
Trong đó, “Association” là một dạng thức liên kết của các cá nhân có chia sẻ cùng một mục đích, làm cùng một loại hình công việc…3; còn “Society” là từ để chỉ một cộng đồng có tổ chức, tại đây mối liên hệ, liên kết giữa các thành viên đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Sự liên kết này không đơn giản dựa trên tiêu chí mục đích, sở thích chung, mà còn có thể là những đặc điểm văn hóa, tôn giáo tương đồng. Cả hai khái niệm này đều có từ gốc Latinh là socius/ socielis, hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng hành giữa con người với nhau trong đời sống.4 Dưới góc độ pháp lý quốc tế, định nghĩa về “hội” cũng đã được quan tâm nghiên cứu. Theo Đại diện đặc biệt Liên Hợp Quốc về những người bảo vệ nhân quyền: Khái niệm “hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung5.
Hay trong Báo cáo A/HRC/20/27 của Báo cáo viên đặc biệt về quyền tự do hội họp hòa bình và hiệp hội, Maina Kiai 6gửi Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc năm 2012 thì “hội” được hiểu “.là bất kỳ nhóm cá nhân hoặc thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung”. Một số loại hội điển hình bao gồm tổ 3 Dictionary of Contemporary English (2009), New edition for Advanced learnners, Pearson Longman, p. 4 Lã Khánh Tùng, Nghiêm Xuân Hoa và Vũ Công Giao (2015), Hội và Tự do hiệp hội: Một cách tiếp cận dựa trên quyền, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr.
5 Lê Thương Huyền (2021), Quyền tự do lập hội ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, tr. 6 Maina Kiai là Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về quyền tự do hội họp ôn hòa và lập hội từ ngày 1 tháng 5 năm 2011 đến ngày 30 tháng 4 năm 2017. Ông Kiai là một nhà vận động lâu năm cho nhân quyền và cải cách hiến pháp ở Kenya – đáng chú ý là người sáng lập và Giám đốc điều hành của Ủy ban Nhân quyền Kenya không chính thức, và sau đó là Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Quốc gia của Kenya Ủy ban (2003- 2008), nơi ông giành được danh tiếng quốc gia nhờ sự vận động dũng cảm và hiệu quả chống tham nhũng của quan chức, ủng hộ cải cách chính trị và chống lại sự trừng phạt sau vụ bạo lực xảy ra ở Kenya năm 2008, khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011, ông Kiai là Giám đốc Điều hành của Hội đồng Quốc tế về Chính sách Nhân quyền, một cơ quan cố vấn có trụ sở tại Geneva chuyên đưa ra các báo cáo nghiên cứu và tài liệu tóm tắt với các khuyến nghị chính sách.
Ông Kiai cũng là Giám đốc Chương trình Châu Phi của Tổ chức Ân xá Quốc tế (1999-2001), và Giám đốc Châu Phi của Nhóm Luật Nhân quyền Quốc tế (nay là Quyền toàn cầu, 2001-2003). 8 chức xã hội, câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, đảng phái chính trị, công đoàn, tổ chức và hiệp hội trực tuyến.7 Ở Việt Nam, nhận thức về hội là vấn đề đang có nhiều tranh luận, xuất phát từ những góc nhìn khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, danh từ “hội” dùng để chỉ tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động8. Hay trong Từ điển Hành chính của tác giả Tô Tử Hạ thì “Hội là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích,… tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi”9.
Các định nghĩa này đều có điểm tương đồng về “hội” là sự liên kết, quy tụ, tập hợp của nhiều người với nhau thành nhóm để hướng đến các lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung. Ví dụ: Những người thích mèo, muốn chia sẻ những kiến thức hay những tấm hình đẹp về các loại mèo, họ tập hợp lại với nhau thành “Hội những người yêu thích mèo”; hay là những người giàu lòng nhân ái, muốn giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh, họ tập hợp lại với nhau thành “Hội từ thiện”… Tuy nhiên, có thể thấy khái niệm hội này mang tính chất chung chung và chưa làm rõ bản chất về hội. Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, khái niệm “hội” đã được đề cập ngay trong những văn bản đầu tiên của nước ta. Điều 1, Sắc lệnh số 52/SL ngày 22/4/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xác định: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung; mục đích ấy không phải để chia lợi tức”.
Hiện nay, quan điểm về hội được quy định cụ thể tại khoản 1, Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP: “là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan”. Khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP đưa ra một số đặc trưng của hội: “Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản và có thể có biểu tượng riêng”. Như vậy, theo văn bản này, hội vẫn được hiểu là tổ chức 7 Report of the Special Rapporteur on the Rights to Freedom of Peaceful Assembly and of Association, Maina Kiai (A/ HRC/20/27), p. Nguồn: https://www.org/Documents/HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session20/A-HRC- 20-27_en.pdf 2, truy cập ngày 22/02/2023.
8 Trung tâm Từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr. 9 Tô Tử Hạ: Từ điển Hành chính, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2008, tr. 9 tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam, có chung mục đích, hoạt động thường xuyên, không vì mục tiêu lợi nhuận và có tư cách pháp nhân.
Tuy nhiên, trên thực tế, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP không điều chỉnh đối với các tổ chức: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức giáo hội (gọi chung là các hội có tính chất đặc thù) và các hội không có tư cách pháp nhân, đồng thời đặt ra yêu cầu bắt buộc các hội phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký10. Như vậy, hội theo cách hiểu ở Việt Nam không bao gồm các nhóm và tập thể do nhân dân tự nguyện bột phát, tức thời lập ra (các nhóm này không có điều lệ, không có đóng góp vật chất, sức lực, trí tuệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, cố kết không chặt chẽ và không thường xuyên hành động). Đồng thời, các tổ chức như: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không được xem là hội. Đây là tổ chức chính trị - xã hội theo Điều 9 Hiến pháp năm 2013.
Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm cả hoạt động chính trị và hoạt động phi chính trị11. Các tổ chức chính trị – xã hội này là các hội đặc biệt do nguyên nhân lịch sử cách mạng Việt Nam để lại và có những vai trò quan trọng góp phần vào việc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đây là những tổ chức được thành lập đại diện cho ý chí của các tầng lớp trong xã hội trong hoạt động của bộ máy nhà nước nên phải được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với đảng cầm quyền, làm nòng cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng, là cơ sở chính trị của hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, hội ở Việt Nam cũng không bao gồm các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng.12 Từ một số khái niệm đã nêu ra ở trên có thể thấy hiện nay có khá nhiều định nghĩa về hội, tuỳ thuộc vào từng góc độ nghiên cứu cũng như nhận thức về tầm vai trò của hội trong từng xã hội mà có những cách hiểu khác nhau về khái niệm“hội”.
Qua những ý kiến tham khảo khái niệm về hội và những phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về hội như sau: “Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm 10 Lê Thương Huyền (2021), Quyền tự do lập hội ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, tr. 11 Phan Xuân Sơn (2012), Hệ thống chính trị và một số vấn đề về đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam, NXB. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr. 12 Lê Thương Huyền (2021), Quyền tự do lập hội ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, tr.
10 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, vì hội viên và vì lợi ích cộng đồng”. Nội hàm của khái niệm này không bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) và các tổ chức tôn giáo. Hội bao gồm hội có nghĩa vụ đăng ký và hội không có nghĩa vụ đăng ký theo quy định của pháp luật. Bởi vì, đăng ký thành lập hội là quyền của một nhóm người, nhóm sáng lập viên.
Họ có quyền đăng ký hay không đăng ký. Trên thực tế nhiều hội không đăng ký nhưng vẫn hoạt động rất tốt.