Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Một số khái niệm 1. Quyền bào chữa Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu tranh giành các quyền dân chủ, tiến bộ. Các quyền tự do, dân chủ mà con người có được ngày nay là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ của những lực lượng tiến bộ trong xã hội chống lại thế lực độc tài, phản dân chủ trên thế giới.
Một trong những quyền dân chủ mà con người giành được trong cuộc đấu tranh đó là quyền bào chữa. “Quyền bào chữa là một chuẩn mực bắt buộc trong quyền được xét xử công bằng” [46]. và được xem là một trong những quyền cơ bản của con người. Những biểu hiện ban đầu của quyền này được tìm thấy trong thời kỳ Trung cổ và phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia có nguồn gốc Common Law.
Sau đó, những ảnh hưởng tiến bộ về quyền có người bào chữa đã lan tỏa sang các nước Châu Âu lục địa. Người bào chữa có vai trò hỗ trợ người bị buộc tội tại phiên tòa để chống lại sự cáo buộc của nhà vua. Mô hình này xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ 12 ở Anh và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 16, 17. Đặc biệt nó được Liên hiệp quốc thừa nhận và đưa vào Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua năm 1966, mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982.
Công ước này đã quy định trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách bình đẳng đầy đủ những bảo đảm sau: (i) Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình; 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện nay, trong khoa học pháp luật tố tụng hình sự thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn chưa có định nghĩa chính thức nào về QBC. Quyền bào chữa là một chế định quan trọng trong luật TTHS và cho đến nay nó vẫn cần được làm sáng tỏ từ góc độ lý luận để làm tiền đề cho việc thực hiện QBC của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói chung và của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng. Tuy nhiên, khái niệm QBC hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, những quan điểm này đã được các học giả đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết.
Về khái niệm QBC theo các học giả nước ngoài cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau. Đầu tiên phải kể đến một trong những quan điểm phổ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biến trong các sách báo pháp lý về QBC trong TTHS là quan điểm của nhà luật học Xô viết Stragovich M.S cho rằng: Quyền bào chữa của bị cáo là tất cả các quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định cho bị can để bảo vệ khỏi mọi sự buộc tội và được bị can sử dụng để bác bỏ sự buộc tội, để đưa ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình [45, tr. Xuất phát từ quan điểm buộc tội và bào chữa phải song song tồn tại, ở đâu có buộc tội, ở đó có bào chữa, bị can, bị cáo có QBC vì họ bị buộc tội, những người tham gia tố tụng khác không bị buộc tội nên vấn đề bào chữa không đặt ra đối với họ. Trong pháp luật TTHS Nga quy định QBC là quyền của bị can, bị cáo được tự mình hoặc nhờ người bào chữa đưa ra các chứng cứ hoặc yêu cầu để bác bỏ sự buộc tội hay làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình; sự tham gia của người bào chữa không bị hạn chế ở giai đoạn xét xử mà được bắt đầu ngay từ giai đoạn điều tra [49].
Bên cạnh đó, theo Hiến pháp Nhật Bản quy định tại Điều 34 “không ai bị bắt hay giam giữ mà không có ngay đặc quyền được bào chữa”. Ngoài ra, tại Điều 37 cũng quy định rằng “vào mọi thời điểm bị can, bị cáo phải được luật sư bào chữa có đủ năng lực trợ giúp - người có thể được nhà nước chỉ định sử dụng nếu bị cáo không thể tự bào chữa” [48]. Còn ở trong nước cũng đang tồn tại một số ý kiến như sau: Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “bào chữa” là: “Dùng nhiều lý lẽ, chứng cớ để bênh vực cho hành vi của ai đó đang bị xem là phạm pháp hoặc đang bị lên án”. Còn “quyền” là: “Những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế”.
Do đó, “quyền bào chữa sẽ là việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế khi dùng nhiều lý lẽ, chứng cớ để bênh vực cho hành vi của ai đó đang bị xem là phạm pháp hoặc đang bị lên án.” 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Thanh Niên năm 2000 thì “bào chữa” là: Chống cãi, bênh vực (bào chữa cho người bị cáo); “quyền” là: Thế lực có thể định đoạt được việc này hay việc khác. Phương tiện dùng trong lúc biến. Tạm làm, tạm giữ một chức gì. Do đó, quyền bào chữa sẽ là việc được chống cãi, bênh vực cho bị cáo [34, tr.
38] Theo PGS, TS. Phạm Hồng Hải: Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự [10, tr. Hoàng Thị Sơn đưa ra quan điểm của mình về quyền bào chữa như sau: Quyền bào chữa bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ [44]. TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền tố tụng tạo khả năng cho bị can, bị cáo bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác [50, tr.
Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: Quyền bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng của bị can, bị cáo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng [7, tr. 59] Có thể thấy khái niệm QBC trong pháp luật quốc tế và trong TTHS 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng mục đích chung duy nhất vẫn là bảo đảm quyền của con người khi tham gia TTHS. Tuy nhiên, cần phải thống nhất là: bào chữa được hiểu là việc dùng lý lẽ, chứng cứ, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Còn quyền là khái niệm pháp lý để chỉ những điều mà luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.
Bên cạnh đó, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quyền bào chữa: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư” [21, Điều 67]. Những bản Hiến pháp tiếp theo đều quy định quyền bào chữa của bị cáo. Theo BLTTHS năm 2003 quy định QBC thuộc về người tạm giữ, bị can, bị cáo và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho người bị buộc tội. Đối với việc bảo vệ các quyền và lợi ích các chủ thể đó không trực tiếp liên quan tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ trong vụ án thì không thuộc về giới hạn của quyền bào chữa.
Như vậy, từ những hiểu biết của mình, kế thừa các quan điểm của các nghiên cứu được tham khảo và quy định của Hiến pháp, pháp luật TTHS tác giả xin đưa ra khái niệm QBC trong TTHS như sau: Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền của người bị buộc tội được đưa ra lý lẽ, chứng cứ hoặc thực hiện các hành vi tố tụng khác phù hợp pháp luật nhằm xác định sự vô tội hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ công lý. Có thể thấy, qua sự phân tích, so sánh các quan điểm khoa học và quy định pháp luật của các nước về khái niệm QBC cho thấy, chế định QBC trong TTHS Việt Nam mang tính tính ổn định, tính lịch sử và kế thừa. Tính ổn định 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thể hiện ở chỗ QBC được ghi nhận như một nguyên tắc Hiến định nhằm đảm bảo cho bị can, bị cáo sử dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình trước Tòa án; pháp luật dành cho bị can, bị cáo mọi quyền cần thiết để chứng minh sự vô tội của mình và các tình tiết giảm nhẹ TNHS, đưa ra các yêu cầu của mình, xuất trình chứng cứ… Tính lịch sử được thể hiện ở những bảo đảm pháp lý về QBC của bị can, bị cáo được ghi nhận và ngày càng hoàn thiện để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, đáp ứng với khả năng thực tế của các cơ quan THTT và người THTT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS). Còn tính kế thừa được thể hiện qua các Bộ luật TTHS từ năm 1988 đến nay đều quy định về quyền bào chữa và đảm bảo quyền bào chữa được thực thi trong thực tiễn.
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình còn hạn chế. Do đó, dễ bị chi phối bởi tác động bên ngoài và thực hiện các hành vi thiếu suy nghĩ chín chắn.