CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Gia công xuất khẩu và sản xuất xuất khẩu: 1. Gia công xuất khẩu: Gia công xuất khẩu (gia công quốc tế) là gì ? Theo Trần Văn Hòe (2009): “Gia công xuất khẩu (gia công quốc tế) là một phương thức khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước trên thế giới. Có nhiều khái niệm khác nhau về Gia công quốc tế, nhưng theo cách hiểu chung nhất thì gia công quốc tế là hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công ) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao(gọi là phí gia công)”.
Trong hoạt động gia công quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Như vậy, gia công quốc tế cải tiến các thuộc tính riêng của đối tượng lao động (nguyên liệu hoặc bán thành phẩm ) nhằm tạo cho sản phẩm một giá trị sử dụng nào đó. Bên đặt gia công có thể giao toàn bộ nguyên vật liệu hoặc chỉ nguyên vật liệu chính hoặc bán thành phẩm có khi gồm cả máy móc thiết bị, chuyên gia cho bên nhận gia công. Trong trường hợp không giao nhận nguyên vật liệu chính thì bên đặt gia công có thể chỉ định cho bên kia mua nguyên vật liệu ở một địa điểm nào đó với giá cả được ấn định từ trước hoặc thanh toán thực tế trên hoá đơn.
Còn bên nhận gia công có nghĩa vụ tiếp nhận hoặc mua nguyên vật liệu sau đó tiến hành gia công, sản xuất theo đúng yêu cầu của bên đặt gia công cả về số lượng chủng loại, mẫu mã, thời gian. Sau khi hoàn thành quá trình gia công thì giao lại thành phẩm cho bên đặt gia công và nhận một khoản phí gia công theo thoả thuận từ trước. Các yếu tố sản xuất có thể đưa vào thông qua nhập khẩu để phục vụ quá trình gia công. Hàng hoá sản xuất ra không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch giá phụ liệu cung cấp tiền công và chi phí khác đem lại.
Thực chất gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động nhưng là lao động dưới dạng sử dụng thể hiện trong hàng hoá chứ không phải xuất khẩu nhân công ra nước ngoài. SVTH: Phạm Hữu Quân - Lớp: K47 Marketing 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Khánh Ngọc Bích Đặc điểm của hoạt động gia công xuất khẩu: Trong gia công quốc tế thì hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Mối quan hệ giữa bên đặt gia công và bên nhận gia công có mối quan hệ chặt chẽ và được quy định rõ trong hợp đồng gia công, trong đó quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lợi của mỗi bên.
Trong quan hệ hợp đồng gia công thì bên nhận gia công chịu mọi trách nhiệm về các chi phí phát sinh và những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất. Sau khi thực hiện đầy đủ những trách nhiệm được quy định trong hợp đồng gia công thì bên nhận gia công sẽ nhận được một khoản tiền gọi là phí gia công còn bên đặt gia công sẽ mua lại toàn bộ thành phẩm được sản xuất ra trong quá trình gia công. Trong hợp đồng gia công, người ta sẽ quy định rõ các điều kiện thương mại, thành phẩm, nguyên liệu cấu thành, giá cả gia công, nghiệm thu, thanh toán và hình thức giao hàng v.v… Thực chất gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu lao động nhưng là lao động dưới dạng sử dụng thể hiện trong hàng hoá chứ không phải xuất khẩu nhân công ra nước ngoài.vn/khai-niem-dac-diem-vai-tro-cua-gia-cong-xuat-khau, 2017) Vai trò của hoạt động gia công Đối với nước đặt gia công - Việc đặt gia công đối với các nước nhận gia công hàng hóa thì sẽ giúp khai thác tối đa được nguồn lao động dồi dào. - Có cơ hội chuyển giao công nghệ để kiếm lời - Phù hợp với cơ cấu đặc điểm của mỗi quốc gia, sử dụng nguồn lực hợp lý trong việc đầu tư phát triển sản phẩm mới thay vì sử dụng nguồn lực để gia công các mặt hàng.
Đối với nước nhận gia công - Góp phần từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh. Thông qua phương thức gia công quốc tế mà các nước kém phát triển với khả năng sản xuất hạn chế có cơ hội tham gia vào phân công lao động quốc tế, khai thác được nguồn tài nguyên đặc biệt là giải quyết được vấn đề việc làm cho xã hội. Đặc gia công quốc tế không những cho phép chuyên môn hoá với từng sản phẩm nhất định mà chuyên môn hoá trong từng công đoạn, từng chi tiết sản phẩm. SVTH: Phạm Hữu Quân - Lớp: K47 Marketing 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hồ Khánh Ngọc Bích - Tạo điều kiện để từng bước thiết lập nền công nghiệp hiện đại và quốc tế hoá. - Chuyển dịch cơ cấu công nghhiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. - Nâng cao tay nghề người lao động và tạo dựng đội nguz quản lý có kiến thức và kinh nghiệm trong việc tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế và quản lý nền công nghiệp hiện đại - Tiếp thu những công nghệ quản lý và công nghệ sản xuất hiện đại thông qua chuyển giao công nghệ.vn/khai-niem-dac-diem-vai-tro-cua-gia-cong-xuat-khau, 2017) 1. Sự khác biệt giữa SXXK và GCXK: SXXK là hình thức nhập nguyên liệu về để sản xuất xuất khẩu trong đó bên bán nguyên liệu khác với bên mua sản phẩm tức là có hai hợp đồng là hợp đồng nhập nguyên liệu và hợp đồng xuất sản phẩm.
Ngược lại GCXK nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm sang cho cùng một đối tác và phụ thuộc họ về cả thiết kế lẫn nguyên liệu , được bao tiêu sản phẩm. Cả hai hình thức giống nhau ở chổ đều là quá trình xuất khẩu lao động tại chổ và đều có quá trình nhập và xuất. Tuy nhiên, lại có sự khác biệt khá rõ rệt giữa 2 quá trình SXXK và GCXK, cụ thể như sau: Gia công xuất khẩu: + Khi NK thì không phải chịu thuế NK. + Đăng ký hợp đồng gia công khi NK đã phải thể hiện định mức tỷ lệ hao hụt (ở loại hình SXXK thì lại đăng ký tỷ lệ này khi XK).
+ NVL NK chính chủ yếu do người thuê gia công cung cấp và người nhận gia công không phải thanh toán tiền hàng này nên cũng không có quyền định đoạt số hàng hóa này. + Người nhận gia công phải gia công sản xuất theo hợp đồng và chỉ nhận được phí gia công tính theo sản phẩm xuất khẩu. + Người nhận làm gia công XK hàng theo chỉ định của người đặt gia công. + Đảm bảo các thủ tục , quy định về gia công hàng.
Sản xuất xuất khẩu: + Chỉ tính thuế NK (không tính thuế GTGT) và được ân hạn thuế. + Khi XK phải đăng ký định mức sử dụng NVL SVTH: Phạm Hữu Quân - Lớp: K47 Marketing 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Khánh Ngọc Bích + Người NK phải thanh toán tiền hàng là NVL khi mua hàng và có quyền định đoạt số hàng hóa này. + Người NK NVL SX tự tìm thị trường XK và tự thỏa thuận giá bán hàng.
+ Phải làm thủ tục theo quy định về hàng SXXK. (Nguồn: Quy chế tổ chức doanh nghiệp – Tài liệu nội bộ c.ty CP Dệt may Huế) 1. Nhập khẩu và hồ sơ nhập khẩu đối với hàng sản xuất xuất khẩu : 1. Nhập khẩu: - Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới.
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài. - Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa : “ Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ có liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài ”. - Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, các Công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau. - Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa.
Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán.vn/van-de-chung-ve-hoat-dong-nhap-khau-tai-doanh-nghiep ,2017) 1. Các hình thức nhập khẩu: - Nhập khẩu trực tiếp : Theo cách thức này, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc mua và việc bán không ràng buộc nhau. Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, bên bán có thể chỉ bán mà không mua. Hoạt động chủ yếu là SVTH: Phạm Hữu Quân - Lớp: K47 Marketing 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hồ Khánh Ngọc Bích doanh nghiệp trong nước nhập khẩu hàng hoá, vật tư ở thị trường nước ngoài đem về tiêu thụ ở thị trường trong nước. Để tiến tới ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu vật tư, thiết bị trên thị trường nội địa, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả, đàm phán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịch với bên xuất khẩu, thực hiện theo hành lang pháp lý quốc gia cũng như thông lệ quốc tế. Đặc điểm : Được tiến hành một cách đơn giản.